KINH DUY MA CẬT
Đoàn Trung Còn
Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải
Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Tran...
KINH
DUY-MA-CẬT
ĐOÀN TRUNG CÒN
NGUYỄN MINH TIẾN
dịch và chú giải
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
5
LỜI NÓI ĐẦU
Kinh Duy-ma-cật là một trong những bộ
kinh được phổ biến khá rộng rãi trong
giới học Phật, nhất là Phật giáo...
6
7
NGHI THỨC KHAI KINH
Hương tán
Lò hương vừa đốt,
Cõi pháp nức xông,
Chư Phật hội lớn thảy đều nghe,
Tùy chỗ kết mây lành,...
8
Kinh Duy- ma-cật
Phổ Cúng Dường Chân Ngôn:
Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hộc.
(Ba lần)
Khai Kinh Kệ
Pháp mầ...
9
10
11
KINH DUY-MA-CẬT(1)
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm thứ nhất
CÕI PHẬT
Tôi nghe như thế này:(2)
Một thuở nọ, đức Phật
ngự tại thành Tỳ-...
12
Kinh Duy- ma-cật
thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư
Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó
mà...
13
Cõi Phật
Các ngài biết rõ tướng trạng các pháp, hiểu được căn
tánh chúng sinh. Các ngài bao trùm khắp đại chúng,
đạt đế...
14
Kinh Duy- ma-cật
pháp nhiều như châu báu mà một vị hải đạo sư(1)
tìm được ở biển cả. Các ngài thấu rõ nghĩa lý sâu xa
h...
15
Cõi Phật
Các ngài đã đóng kín hết các đường ác: địa ngục, ngạ quỷ,
súc sinh, nhưng tự mình thị hiện sinh sống trong năm...
16
Kinh Duy- ma-cật
Thảm, Bồ Tát Hỷ Căn, Bồ Tát Hỷ Vương, Bồ Tát Biện
Âm, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Chấp Bảo Cự, Bồ
Tát...
17
Cõi Phật
thiên đế, cũng từ các cõi Tứ thiên hạ khác đến dự pháp
hội. Cũng có cả chư thiên oai đức lớn, long thần, dạ-xo...
18
Kinh Duy- ma-cật
đủ trong cái lọng ấy. Lại nữa, các núi Tu-di, Tuyết sơn,
Mục-chân-lân-đà, Ma-ha Mục-chân-lân-đà, Hương...
19
Cõi Phật
Pháp lực Pháp vương vượt quần sinh,
Thường đem của pháp thí tất cả,
Có tài phân biệt tướng các pháp,
Đối Đệ nh...
20
Kinh Duy- ma-cật
Pháp ấy xưa nay thường trong sạch:
Trời, người đắc đạo, đó là chứng,
Tam bảo lúc ấy hiện thế gian.
Đem...
21
Cõi Phật
Thấy việc ít có, chúng khen Phật.
Nay ta đảnh lễ Tam giới tôn,
Đại thánh Pháp vương: chỗ chúng theo,
Tâm tịnh ...
22
Kinh Duy- ma-cật
Thảy thấy Thế Tôn trước mặt mình,
Thần lực của Ngài chẳng ai bằng.
Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiến...
23
Cõi Phật
Đảnh lễ Bậc độ các thế gian.
Đảnh lễ Bậc lìa đường sinh tử.
Biết rõ tướng lai khứ chúng sinh,
Hiểu rành các ph...
24
Kinh Duy- ma-cật
Phật dạy Bảo Tích rằng: “Các loài chúng sinh là
cõi Phật của Bồ Tát. Tại sao vậy? Bồ Tát tùy theo
chỗ ...
25
Cõi Phật
chúng sinh Đại thừa sinh về nước ấy. Bố thí là cõi
nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật,
những ch...
26
Kinh Duy- ma-cật
tốt sinh về nước ấy. Tinh tấn là cõi nước thanh tịnh
của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng
si...
27
Cõi Phật
những chúng sinh đối với tất cả các pháp tùy nghi vô
ngại sinh về nước ấy. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo(1)
là
cõi ...
28
Kinh Duy- ma-cật
chánh đạo7
sinh về nước ấy. Tâm hồi hướng là cõi nước
thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, ng...
29
Cõi Phật
chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh.
Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm
...
30
Kinh Duy- ma-cật
Lúc ấy, Phạm Vương Loa Kế bảo Xá-lỵ-phất: “Đừng
nghĩ như vậy, cho rằng cõi Phật này là không thanh tịn...
31
Cõi Phật
Xá-lỵ-phất bạch rằng: “Dạ, Thế Tôn! Từ trước con
chưa từng được thấy, chưa từng được nghe như thế này.
Nay, qu...
32
Kinh Duy- ma-cật
văn thừa hiểu ra được rằng các pháp hữu vi là vô thường,
liền xa trần cảnh, lìa cấu nhiễm, được Pháp n...
33
Cõi Phật
34
Phẩm thứ hai
PHƯƠNG TIỆN
Lúc ấy, trong thành lớn Tỳ-da-ly có một vị
trưởng giả tên là Duy-ma-cật. Ấy là người
đã từng c...
35
Phương tiện
khéo suy xét, liệu lường. Ngài trụ nơi oai nghi của Phật,
lòng dạ rộng lớn như biển cả. Chư Phật khen ngợi,...
36
Kinh Duy- ma-cật
tốt để trang nghiêm thân mình. Tuy vẫn ăn uống,
nhưng ngài lấy niềm vui hành thiền làm món ăn
ngon. Nế...
37
Phương tiện
ngài được tôn trọng, bèn dứt mối tham trước của họ. Nếu
ở tại nhóm sát-lỵ, ngài được tôn trọng, bèn đem phá...
38
Kinh Duy- ma-cật
phương tiện hiện ra thân mình có bệnh. Vì người đang
bệnh, nên các hàng quốc vương, đại thần, trưởng g...
39
Phương tiện
như gió. Thân này không phải người, cũng như nước.
Thân này chẳng thật, nó lấy bốn đại: đất, nước, lửa, gió...
40
Kinh Duy- ma-cật
“Các nhân giả! Thân này đáng lo, đáng chán, mà nên
ưa thích thân Phật. Tại sao vậy? Thân Phật tức là P...
41
Phương tiện
nhóm họp tất cả các pháp lành mà sinh ra; do chân thật
mà sinh ra; do chẳng phóng dật mà sinh ra. Do vô lượ...
42
Phẩm thứ ba
ĐỆ TỬ
L
úc ấy, trưởng giả Duy-ma-cật bệnh nằm
trên giường, tự nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn
đại bi! Ngài há chẳng...
43
Đệ tử
Xá-lỵ-phất bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ
sức đảm nhận việc đến đó thăm hỏi bệnh ông ấy. Nguyên
do là thế...
44
Kinh Duy- ma-cật
Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh người.”
Mục-liên bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức
đảm nhận việc ...
45
Đệ tử
thuyết diễn, nên lìa khỏi giác quan. Pháp không có hình
tướng, nên giống như hư không. Pháp không có hí luận,
nên...
46
Kinh Duy- ma-cật
rành rẽ, không chi trở ngại. Đem lòng đại bi xưng tán Đại
thừa. Nhớ báo đáp ơn Phật, đừng dứt lìa Tam ...
47
Đệ tử
xóm như nơi không dân cư, nên mới đi vào xóm làng. Chỗ
thấy hình sắc với chỗ không nhìn thấy của kẻ mù đều
như nh...
48
Kinh Duy- ma-cật
bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật với Hiền
Thánh Tăng, làm được như vậy rồi mới nên ăn. Ng...
49
Đệ tử
Phật bảo Tu-bồ-đề:(1)
“Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật
mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Thế Tôn! ...
50
Kinh Duy- ma-cật
phải chẳng thấy bốn đế. Chẳng phải đắc quả, chẳng phải
chẳng đắc quả. Chẳng phải phàm phu, chẳng phải ...
51
Đệ tử
tử, Xan-xà-dạ Tỳ-la-đê tử, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm-bà-la,
Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề tử sẽ là
thầy ...
52
Kinh Duy- ma-cật
“Duy-ma-cật nói: ‘Dạ, Tu-bồ-đề, xin ngài hãy cầm lấy
bát, đừng sợ. Ý ngài nghĩ sao, như đức Như Lai có...
53
Đệ tử
bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Phú-lâu-na! Trước hết ngài
nên nhập định, quán xét tâm tánh của những người này.
Rồi...
54
Kinh Duy- ma-cật
“Liền đó, Duy-ma-cật thuyết pháp với các vị. Đối với
quả Phật, các vị không còn thối chuyển. Từ đó con...
55
Đệ tử
là nghĩa vô ngã. Pháp xưa chẳng cháy, nay cũng chẳng
tắt: đó là nghĩa tịch diệt.’
“Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy...
56
Kinh Duy- ma-cật
“Bấy giờ, Duy-ma-cật đi đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa
ngài A-na-luật! Chỗ thấy của thiên nhãn là tướng t...
57
Đệ tử
ông ấy, hỏi rằng: ‘Thưa ngài, vậy trong đời này ai có thiên
nhãn chân thật?’
“Duy-ma-cật đáp: ‘Chỉ có Phật Thế Tô...
58
Kinh Duy- ma-cật
chúng tôi khỏi các tội lỗi.’ Con liền theo như pháp mà giải
thuyết với hai vị ấy.
“Bấy giờ, Duy-ma-cật...
59
Đệ tử
trong một tư tưởng, cũng chẳng hề ngừng lại. Các pháp
đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nháng lửa, như
mặt tră...
60
Kinh Duy- ma-cật
Phật bảo La-hầu-la:(1)
“Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-
cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.”
La-hầu-la bạch Phật rằ...
61
Đệ tử
pháp ấy, bậc thánh nhân hành pháp ấy. Hàng phục các
ma, vượt qua năm nẻo,(1)
giữ sạch năm thứ mắt,(2)
được
năm sứ...
62
Kinh Duy- ma-cật
“Lúc ấy, Duy-ma-cật nói với những người con nhà
trưởng giả rằng: ‘Các ngươi nên cùng nhau xuất gia, ở
...
63
Đệ tử
“Con đáp rằng: ‘Cư sĩ, thân Thế Tôn có chút bệnh, cần
dùng sữa bò, cho nên tôi lại đây.’
“Duy-ma-cật nói: ‘Thôi, ...
64
Kinh Duy- ma-cật
“Thế Tôn! Lúc ấy, con thật mang lòng hổ thẹn, chẳng lẽ
được gần Phật mà nghe lầm sao? Con liền nghe có...
65
66
Phẩm Thứ Tư
BỒ TÁT
Lúc ấy, Phật bảo Bồ Tát Di-lặc:(1)
“Ông hãy
đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông
ấy.”
Bồ Tát Di-l...
67
Bồ Tát
Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do đời sống nào mà được sự
thọ ký ấy? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời
hiện tại chăn...
68
Kinh Duy- ma-cật
tất cả chúng sinh lẽ ra cũng đều đắc quả. Tại sao
vậy? Tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề. Nếu Di-
l...
69
Bồ Tát
trước. Thuận là Bồ-đề, vì thuận theo lẽ như. Trụ là
Bồ-đề, vì trụ nơi tánh pháp. Đến là Bồ-đề, vì đến chỗ
thực t...
70
Kinh Duy- ma-cật
Quang Nghiêm bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con
chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông
ấy. Nguyên ...
71
Bồ Tát
Thần thông là đạo trường, vì thành tựu sáu thần
thông. Giải thoát là đạo trường, vì buông bỏ được.
Phương tiện l...
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
Kinh duymacat viet-doantrungcon
of 214

Kinh duymacat viet-doantrungcon

Published on: Mar 3, 2016
Source: www.slideshare.net


Transcripts - Kinh duymacat viet-doantrungcon

  • 1. KINH DUY MA CẬT Đoàn Trung Còn Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự cho phép bằng văn bản của chúng tôi. GPXB số 493-2007/CXB/06-176/TG QĐXB số 313/QĐ-TG In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh 416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam Published by arrangement between Huong Trang Cultural Company Ltd. and the author. All rights reserved. No part of this book may be reproduced by any means without prior written permission from the publisher.
  • 2. KINH DUY-MA-CẬT ĐOÀN TRUNG CÒN NGUYỄN MINH TIẾN dịch và chú giải NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
  • 3. 5 LỜI NÓI ĐẦU Kinh Duy-ma-cật là một trong những bộ kinh được phổ biến khá rộng rãi trong giới học Phật, nhất là Phật giáo Đại thừa. Điều này một phần lớn cũng nhờ công lao của các vị tiền bối đã sớm chuyển dịch và giới thiệu kinh này bằng tiếng Việt. Trong số những người làm công việc này từ rất sớm, phải nhắc đến cố học giả Đoàn Trung Còn. Gần đây, trong nỗ lực bảo tồn và phát huy những công trình của người đi trước, chúng tôi đã lần lượt hiệu đính và bổ sung, sửa chữa hoàn thiện nhiều công trình trước đây của học giả Đoàn Trung Còn, trong số đó có kinh Duy-ma- cật đã được dịch lại trên cơ sở tham khảo bản dịch cũ và bổ sung các chú giải, đồng thời giới thiệu cả nguyên tác Hán văn để phục vụ mục đích tham khảo. Nhằm phục vụ một số đông độc giả không có nhu cầu sử dụng bản Hán văn nên chúng tôi giới thiệu bản in lần này, chỉ in riêng bản dịch tiếng Việt và phần chú giải, hy vọng sẽ góp phần giúp cho nhiều người có thể dễ dàng tìm đọc hơn. NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN
  • 4. 6
  • 5. 7 NGHI THỨC KHAI KINH Hương tán Lò hương vừa đốt, Cõi pháp nức xông, Chư Phật hội lớn thảy đều nghe, Tùy chỗ kết mây lành, Lòng thành mới thấu, Chư Phật hiện toàn thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát ma ha tát! (Ba lần) Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn: Án, tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát bà ha. (Ba lần) Tịnh tam nghiệp chân ngôn: Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (Ba lần) Án Thổ Địa Chân Ngôn: Nam mô tam mãn đa, một đà nẩm. Án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha. (Ba lần)
  • 6. 8 Kinh Duy- ma-cật Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hộc. (Ba lần) Khai Kinh Kệ Pháp mầu sâu thẳm chẳng chi hơn, Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được, Nay con thấy, nghe, được thọ trì, Nguyện giải Như Lai nghĩa chân thật. Nam mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật (Ba lần)
  • 7. 9
  • 8. 10
  • 9. 11 KINH DUY-MA-CẬT(1) QUYỂN THƯỢNG Phẩm thứ nhất CÕI PHẬT Tôi nghe như thế này:(2) Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã (1) Duy-ma-cật Sở Thuyết Kinh (Sanskrit: Vimalakỵrtinirdesa-stra) thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh. Ngày nay không còn nguyên bản Phạn ngữ (Sanskrit) mà chỉ còn lại các bản chữ Hán. Có nhiều bản dịch chữ Hán, trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất là: 1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (佛說維摩詰經) , 2 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào thời Tam quốc (223-253). 2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh (維摩詰所說經) 3 quyển, do ngài Cưu- ma-la-thập (344 – 413) dịch vào năm 406, là bản dịch quan trọng nhất và được sử dụng nhiều nhất, chính là bản kinh này. 3. Thuyết vô cấu xưng kinh (說無垢稱經), 6 quyển, do ngài Huyền Trang (600 – 664) dịch vào năm 650. Cũng gọi theo nghĩa là Tịnh danh kinh. Duy-ma-cật là tên vị Bồ Tát hiện thân cư sĩ trong kinh này, gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật (Sanskrit: Vimalakīrti), dịch nghĩa là Vô Cấu Xưng (無垢稱) trước đây cũng dịch là Tịnh Danh (淨名). (2) Tôi nghe như thế này (Như thị ngã văn): là lời ngài A-nan thuật lại. Tất cả kinh Phật đều mở đầu bằng câu này, để chỉ rõ là do ngài A-nan, bậc đa văn đệ nhất, nghe chính từ kim khẩu của Phật thuyết ra và sau đó mới ghi chép lại.
  • 10. 12 Kinh Duy- ma-cật thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo,(1) khiến cho lưu truyền chẳng dứt. Hàng phục ma oán, chế ngự các ngoại đạo, các ngài đã trở nên thanh tịnh, lìa hẳn các phiền não che phủ quấn quít, lòng hằng trụ yên nơi giải thoát vô ngại, niệm, định, tổng trì,(2) tài biện thuyết chẳng gián đoạn. Các ngài có đầy đủ những đức: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ và sức phương tiện. Các ngài đạt tới mức tự thấy mình không chứng đắc chi cả, chẳng cần khởi lòng nhẫn nhịn đối với mọi sự việc mà biết tùy thuận căn cơ của chúng sinh để quay bánh xe Pháp chẳng thối lui.(3) (1) Tam bảo: ba ngôi quý nhất ở thế gian, đó là: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. (2) Tổng trì (總持): nghĩa là “thâu nhiếp hết tất cả”, dịch chữ dhāraṇī trong tiếng Sanskrit, phiên âm là đà-la-ni. (3) Có tài nương theo chí hướng của người nghe mà thuyết pháp, đưa họ lên đường tấn hóa đạo đức.
  • 11. 13 Cõi Phật Các ngài biết rõ tướng trạng các pháp, hiểu được căn tánh chúng sinh. Các ngài bao trùm khắp đại chúng, đạt đến chỗ an ổn không sợ sệt. Các ngài tu tâm mình bằng công đức trí huệ. Những tướng chánh quý và những tướng phụ tốt tô điểm thân thể, làm cho dung sắc hình tượng các ngài đẹp đẽ bậc nhất. Các ngài chê bỏ mọi món trang sức tốt đẹp của thế gian. Danh tiếng của các ngài rất cao xa, vượt khỏi núi Tu-di. Đức tin của các ngài sâu vững như kim cang. Chánh pháp quý giá của các ngài soi sáng khắp nơi và tuôn xuống như mưa cam- lộ.(1) Tiếng nói của các ngài vi diệu đệ nhất. Các ngài thấu nhập sâu xa tới chỗ phát khởi của nhân duyên, chặt đứt các ý kiến tà vạy và ý kiến thiên lệch về hai bên, chẳng nghiêng về chấp có hoặc chấp không. Các ngài không còn những thói quen xấu. Các ngài diễn giảng pháp giáo một cách hùng hồn không sợ sệt, dường như tiếng sư tử rống. Tiếng giảng thuyết của các ngài vang dội như sấm dậy, không thể đong lường, quá số đong lường. Những điều quý giá mà các ngài thâu góp được trong Chánh (1) Cam-lộ (Sanskrit: Amrta) phiên âm là A-mật-rí-đa, chất nước ngon ngọt, uống vào được sống lâu, rưới trên mình thì trừ hết bệnh tật.
  • 12. 14 Kinh Duy- ma-cật pháp nhiều như châu báu mà một vị hải đạo sư(1) tìm được ở biển cả. Các ngài thấu rõ nghĩa lý sâu xa huyền diệu của các pháp. Các ngài biết rành chỗ đã qua và chỗ sẽ đến của chúng sinh, cùng mọi manh động trong tâm ý của họ. Các ngài gần tới mức huệ tự tại của Phật mà không ai sánh bằng. Huệ ấy bao gồm những đức như: mười trí lực, lòng chẳng sợ, mười tám món công đức vượt trên hàng nhị thừa.(2) (1) Hải đạo sư: vị chủ thuyền cầm đầu một số người đi ra biển cả để tìm châu báu, ngọc quý. (2) Tức là Thập bát bất cộng pháp (十八不共法 – Sanskrit: aṣṭādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ): Mười tám pháp bất cộng, vượt cao hơn các quả vị Tiểu thừa và Duyên giác thừa, duy chỉ có hàng Bồ Tát Đại thừa mới đạt đến, cũng gọi là Thập bát bất cụ pháp, bao gồm: 1.Thân vô thất (Thân không lỗi) 2. Khẩu vô thất (Miệng không lỗi) 3. Niệm vô thất (Ý tưởng không lỗi) 4. Vô dị tưởng (Không có ý tưởng xen tạp) 5. Vô bất định tâm (Không có tâm xao động) 6. Vô bất tri dĩ xả (Chẳng phải không biết chuyện đã bỏ). 7. Dục vô diệt (Sự dục không diệt) 8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn không diệt) 9. Niệm vô diệt (Ý tưởng không diệt) 10. Huệ vô diệt (Trí huệ không diệt) 11. Giải vô diệt (Giải thoát không diệt) 12. Giải thoát tri kiến vô diệt (Giải thoát tri kiến không diệt) 13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của thân tùy theo trí huệ mà thi hành). 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của miệng tùy theo trí huệ mà thi hành).
  • 13. 15 Cõi Phật Các ngài đã đóng kín hết các đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhưng tự mình thị hiện sinh sống trong năm đường: cõi trời, cõi người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Làm bậc đại y vương, các ngài trị lành các thứ bệnh. Tùy bệnh mà cho thuốc, các ngài khiến người ta được lành mạnh. Các ngài đều thành tựu vô lượng công đức. Vô lượng cõi Phật đều được các ngài làm cho trang nghiêm, thanh tịnh. Những ai nghe biết đến các ngài, thảy đều được lợi ích. Những việc mà các ngài làm đều mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Tất cả những công đức như vậy, các ngài đều có đầy đủ. Danh hiệu của các ngài là: Bồ Tát Đẳng Quan, Bồ Tát Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Đẳng Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Định Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tướng, Bồ Tát Quang Tướng, Bồ Tát Quang Nghiêm, Bồ Tát Đại Nghiêm, Bồ Tát Bảo Tích, Bồ Tát Biện Tích, Bồ Tát Bảo Thủ, Bồ Tát Bảo Ấn Thủ, Bồ Tát Thường Cử Thủ, Bồ Tát Thường Hạ Thủ, Bồ Tát Thường 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của ý tùy theo trí huệ mà thi hành). 16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ biết đời quá khứ không ngại.) 17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ biết đời vị lai không ngại.) 18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ biết đời hiện taïi khoâng ngại.)
  • 14. 16 Kinh Duy- ma-cật Thảm, Bồ Tát Hỷ Căn, Bồ Tát Hỷ Vương, Bồ Tát Biện Âm, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Chấp Bảo Cự, Bồ Tát Bảo Dũng, Bồ Tát Bảo Kiến, Bồ Tát Đế Võng, Bồ Tát Minh Võng, Bồ Tát Vô Duyên Quan, Bồ Tát Huệ Tích, Bồ Tát Bảo Thắng, Bồ Tát Thiên Vương, Bồ Tát Hoại Ma, Bồ Tát Điện Đức, Bồ Tát Tự Tại Vương, Bồ Tát Công Đức Tướng Nghiêm, Bồ Tát Sư Tử Hống, Bồ Tát Lôi Âm, Bồ Tát Sơn Tướng Kích Âm, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Bạch Hương Tượng, Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bất Hưu Tức, Bồ Tát Diệu Sinh, Bồ Tát Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đắc Đại Thế, Bồ Tát Phạm Võng, Bồ Tát Bảo Trượng, Bồ Tát Vô Thắng, Bồ Tát Nghiêm Độ, Bồ Tát Kim Kế, Bồ Tát Châu Kế, Bồ Tát Di-lặc, Bồ Tát Pháp vương tử Văn-thù Sư-lỵ... Những Bồ Tát như vậy là ba mươi hai ngàn vị. Lại có mười nghìn Phạm Thiên Vương, như Phạm vương Thi Khí..., từ các cõi Tứ thiên hạ(1) khác đến nơi Phật ngự để nghe pháp. Lại có một mười hai ngàn vị (1) Tứ Thiên hạ: Một thế giới có bốn châu, gọi là một Tứ thiên hạ. Cũng gọi là Tứ châu. Bốn cõi ở bốn phương của thế giới này: 1. Phất-bà-đề tại phương Đông. 2. Cồ-da-ni tại phương Tây. 3. Diêm-phù-đề tại phương Nam. 4. Câu-lư-châu tại phương Bắc. Diêm-phù-đề là một cõi trong Bốn cõi thiên hạ.
  • 15. 17 Cõi Phật thiên đế, cũng từ các cõi Tứ thiên hạ khác đến dự pháp hội. Cũng có cả chư thiên oai đức lớn, long thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la- già, thảy đều đến ngồi nơi pháp hội. Chư tỳ-kheo, tỳ- kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di(1) cũng về ngồi trong pháp hội. Lúc ấy, Phật vì đại chúng vô lượng trăm ngàn người cung kính bao quanh mà thuyết pháp, như núi chúa Tu-di hiện rõ trên biển cả, Ngài ngồi yên trên tòa sư tử nghiêm sức bởi các báu, che mờ tất cả đại chúng đến dự pháp hội. Lúc bấy giờ, trong thành Tỳ-da-ly có một chàng con nhà trưởng giả, tên là Bảo Tích, cùng năm trăm chàng con nhà trưởng giả khác, thảy đều cầm những lọng bảy báu, đến nơi Phật ngự, đầu và mặt làm lễ sát chân Phật. Mỗi chàng đều đem lọng của mình mà cúng dường Phật. Oai thần của Phật khiến cho các lọng báu hiệp thành một cái lọng duy nhất, che trùm cả thế giới tam thiên đại thiên.(2) Trọn tướng rộng dài của thế giới này đều hiện (1) Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di: Còn gọi là Tứ bộ chúng, tức là bốn hàng đệ tử của Phật. Tỳ kheo là nam giới xuất gia, thọ đủ giới. Tỳ kheo ni là nữ giới xuất gia, thọ đủ giới. Ưu-bà-tắc hay cư sĩ nam là nam giới tu tại gia. Ưu-bà-di hay cư sĩ nữ là nữ giới tu tại gia. (2) Một ngàn thế giới hợp thành một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới hợp thành một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên
  • 16. 18 Kinh Duy- ma-cật đủ trong cái lọng ấy. Lại nữa, các núi Tu-di, Tuyết sơn, Mục-chân-lân-đà, Ma-ha Mục-chân-lân-đà, Hương sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi, cùng với biển cả, sông cái, sông con, rạch, suối, nguồn, cùng mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, thiên cung, long cung, cung điện của các tôn thần thuộc thế giới tam thiên đại thiên này thảy đều hiện ra trong lọng báu ấy. Lại nữa, chư Phật mười phương, chư Phật đang thuyết pháp cũng hiện ra trong lọng báu ấy. Lúc ấy, tất cả đại chúng thấy sức thần của Phật, đều khen là chưa từng có. Cùng nhau chắp tay lễ Phật, chiêm ngưỡng vẻ mặt của Phật, mắt chẳng xao lãng. Chàng Bảo Tích, con nhà trưởng giả, liền đối trước Phật tụng kệ rằng: Mắt trong, dài, rộng như sen xanh, Lòng sạch qua khỏi các thiền định, Tịnh nghiệp chứa lâu, lường không xiết, Dùng tịch dắt chúng, đáng đảnh lễ! Đã thấy Đại thánh dùng Thần biến, Hiện vô lượng cõi khắp mười phương, Chư Phật thuyết pháp các cõi ấy, Ở đây ai nấy đều nghe thấy. thế giới hợp thành một đại thiên thế giới. Vì thế nên một đại thiên thế giới cũng gọi là Tam thiên đại thiên thế giới.
  • 17. 19 Cõi Phật Pháp lực Pháp vương vượt quần sinh, Thường đem của pháp thí tất cả, Có tài phân biệt tướng các pháp, Đối Đệ nhất nghĩa, chẳng động chuyển. Đối với các pháp được tự tại, Cho nên đảnh lễ Pháp vương này. Nói pháp chẳng có cũng chẳng không, Các pháp do nhân duyên mà sinh. Không ta, không tạo, không người thọ, Nghiệp lành, nghiệp dữ cũng chẳng mất. Trước dẹp ma tại cội Bồ-đề, Đắc Diệt cam-lộ, thành giác đạo. Đã không tâm ý, không thọ hành, Mà tồi phục hết các ngoại đạo. Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên,(1) (1) Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên (Tam Chuyển pháp luân ư đại thiên): Đức Phật Thích-ca thành đạo rồi, ngài vào Vườn Lộc gần thành Ba-la- nại thuyết pháp lần đầu, gọi là Chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp), thuyết pháp Tứ diệu đế bằng ba cách: Thị, Khuyến, Chứng, gọi là Tam chuyển pháp luân. 1. Thị chuyển: Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. Ngài chỉ rõ bốn tướng của Bốn đế. 2. Khuyến chuyển: Nên biết lẽ khổ, nên dứt lẽ tập (nguyên nhân của khổ), nên chứng lẽ diệt, nên tu lẽ đạo. Tức là Phật khuyên tu hành Bốn đế. 3. Chứng chuyển: Ta đã biết lẽ khổ, ta đã dứt lẽ tập, ta đã chứng lẽ diệt, ta đã tu lẽ đạo. Phật xác nhận rằng ngài thành đạo nhờ hiểu thấu và thực hành Bốn đế.
  • 18. 20 Kinh Duy- ma-cật Pháp ấy xưa nay thường trong sạch: Trời, người đắc đạo, đó là chứng, Tam bảo lúc ấy hiện thế gian. Đem diệu pháp ấy cứu quần sinh, Thọ rồi, chẳng thối, thường tịch nhiên, Đại y vương(1) độ lão, bệnh, tử, Nên lễ Pháp hải đức vô biên.(2) Chê, khen chẳng động, như Tu-di, Người lành, kẻ dữ, Phật thương đều, Lòng hành bình đẳng như hư không, Ai nghe Nhân bảo(3) chẳng kính vâng? Nay hiến Thế Tôn lọng báu này, Cõi thế giới ta hiện trong ấy: Cung điện các vị trời, rồng, thần, Càn-thát-bà với cung dạ-xoa, Mọi vật thế gian thấy trong đó. Thập lực(4) phương tiện biến hóa ấy, (1) Đại y vương: Vua thầy thuốc lớn, tiếng để tôn xưng Phật. (2) Pháp hải đức vô biên: Biển pháp đức hạnh không bờ bến, tiếng để tôn xưng Phật (3) Nhân bảo: Ngôi báu, của quý trong loài người, tiếng để tôn xưng Phật. (4) Thập lực (十力, Sanskrit: daśabala, Pāli: dasabala): Đức Phật có đủ mười Trí lực, nên xưng ngài là Thập lực. Mười Trí lực của Phật là: 1. Tri thị xứ phi xứ trí lực (知是處非處智力, Sanskrit: sthānāsthānajñāna, Pāli: ṭhānāṭhāna-ñāṇa): Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp.
  • 19. 21 Cõi Phật Thấy việc ít có, chúng khen Phật. Nay ta đảnh lễ Tam giới tôn, Đại thánh Pháp vương: chỗ chúng theo, Tâm tịnh nhìn Phật, ai chẳng vui? 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (知三世業報智力, Sanskrit: karmavipākajñāna, Pāli: kammavipāka-ñāṇa): Biết rõ luật nhân quả (hay nghiệp quả), tức là nhân nào tạo thành quả nào. 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực (知一切所道智力, Sanskrit: sarva- tragāminīpratipaj-jñāna, Pāli: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa): Biết rõ các nguyên nhân dẫn đến tái sinh về các cảnh giới khác nhau. 4. Tri chủng chủng giới trí lực (智種種界智力, Sanskrit: anekadhātu- nānādhātujñāna, Pāli: anekadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố hình thành. 5. Tri chủng chủng giải trí lực (知種種解智力, Sanskrit: nānā- dhimukti-jñāna, Pāli: nānādhimuttikatāñāṇa): Biết rõ cá tính của mỗi chúng sinh. 6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (知一切眾生心性智力, Sanskrit: indriyapārapara-jñāna, Pāli: indriyaparopariyatta-ñāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mỗi chúng sinh. 7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (知諸禪解脫三昧智力, Sanskrit: sarvadhyāna-vimokṣa-ñāna, Pāli: jhāna-vimokkha-ñāṇa): Biết rõ tất cả các phương thức thiền định. 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (知宿命無漏智力, Sanskrit: pūrvani- vāsānusmṛti-jñāna, Pāli: pubbennivāsānussati-ñāṇa): Biết rõ các tiền kiếp của chính mình. 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (知天眼無礙智力, Sanskrit: cyutyupapādajñāna, Pāli: cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự hoại diệt và tái sinh của chúng sinh. 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (知永斷習氣智力, Sanskrit: āśrava- kṣayajñāna, Pāli: āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các pháp ô nhiễm (Sanskrit: āśrava) sẽ chấm dứt như thế nào. Các trí lực thứ 8, thứ 9 và thứ 10 cũng chính là Tam minh của Phật.
  • 20. 22 Kinh Duy- ma-cật Thảy thấy Thế Tôn trước mặt mình, Thần lực của Ngài chẳng ai bằng. Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Chúng sinh loài nào cũng hiểu được, Họ bảo: Thế Tôn nói tiếng mình, Như vậy, thần lực chẳng ai bằng. Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Chúng sinh ai nấy tùy chỗ hiểu, Thảy được thọ, hành, thâu lợi ích, Như vậy, thần lực chẳng ai bằng. Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Kẻ nghe sợ sệt hoặc vui vẻ, Hoặc sinh chán lìa, hoặc dứt nghi, Như vậy, Thần lực chẳng ai bằng. Đảnh lễ Thập lực đại tinh tấn. Đảnh lễ Bậc đắc không sợ sệt. Đảnh lễ Bậc trụ Bất cộng pháp. Đảnh lễ Thầy lớn dắt tất cả. Đảnh lễ Bậc dứt các trói buộc. Đảnh lễ Bậc tới bờ bên kia.
  • 21. 23 Cõi Phật Đảnh lễ Bậc độ các thế gian. Đảnh lễ Bậc lìa đường sinh tử. Biết rõ tướng lai khứ chúng sinh, Hiểu rành các pháp được giải thoát, Chẳng nhiễm thế gian, như hoa sen, Thường khéo vào nơi hạnh không tịch, Thấu các tướng pháp, không trở ngại, Đảnh lễ Như Không, chẳng dựa đâu. Lúc ấy, chàng Bảo Tích tụng những câu kệ ấy rồi, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề,(1) nay muốn nghe việc được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ Tát.” Phật dạy: “Lành thay, Bảo Tích! Ngươi đã vì chư Bồ Tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ngươi mà giảng thuyết.” Lúc ấy, Bảo Tích và năm trăm chàng con nhà trưởng giả vâng lời dạy ngồi nghe. (1) Phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề: phát nguyện thành Phật, nguyện tu tập hạnh Bồ Tát, hồi hướng về quả vị Phật.
  • 22. 24 Kinh Duy- ma-cật Phật dạy Bảo Tích rằng: “Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát. Tại sao vậy? Bồ Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ Tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ Tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh. Tỷ như người ta muốn tạo lập cung điện nhà cửa trên đất trống thì tùy ý mà tạo lập, không chi trở ngại. Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Bồ Tát cũng vậy, vì muốn giúp cho chúng sinh được thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy cõi Phật. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không. Bảo Tích! Nên biết rằng: Tâm ngay thẳng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chẳng nịnh bợ sinh về nước ấy. Tâm sâu vững là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh đầy đủ công đức sinh về nước ấy. Tâm bồ-đề là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những
  • 23. 25 Cõi Phật chúng sinh Đại thừa sinh về nước ấy. Bố thí là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có thể bỏ tất cả sinh về nước ấy. Trì giới là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh làm mười việc lành(1) tròn nguyện sinh về nước ấy. Nhẫn nhục là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sinh được trang nghiêm bởi ba mươi hai tướng (1) Thập thiện đạo hay Thập thiện là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3 việc), miệng (4 việc) và ý (3 việc). Bao gồm: 1. Bất sát sinh (不殺生, Sanskrit: pāṇāṭipātā paṭivirati): Không sát hại, phải tha thứ, phóng sinh. 2. Bất thâu đạo (不偷盜, Sanskrit: adattādānādvirati): Không trộm cắp, phải thường làm việc bố thí. 3. Bất tà dâm (不邪婬, Sanskrit: kāmamithyācārādvirati): Không tà dâm, phải chung thủy trong cuộc sống một vợ một chồng. 4. Bất vọng ngữ (不妄語, Sanskrit: mṛṣāvādātvirati): Không nói xằng, nói bậy, phải nói lời chân thật. 5. Bất lưỡng thiệt (不兩舌, Sanskrit: paisunyātvirati): Không nói hai lưỡi, nói theo cách đòn xóc hai đầu, phải nói lời cương trực, chân chánh. 6. Bất ác khẩu (不惡口, Sanskrit: pāruṣyātprativirati): Không nói xấu người, phải nói lời hòa giải, hàn gắn. 7. Bất ỷ ngữ (不綺語, Sanskrit: saṃbinnapralāpātprativirati): Không dùng lời thêu dệt không đâu, phải nói lời có ích, có nghĩa lý. 8. Bất tham dục (不貪欲, Sanskrit: abhidhyāyāḥprativirati): Không tham lam, phải hiểu rằng mọi vật là chẳng thật, bất tịnh, vô thường. 9. Bất sân khuể (不嗔恚, Sanskrit: vyāpādātprativirati): Không giận dữ, phải từ bi nhẫn nhục. 10. Bất tà kiến (不邪見, Sanskrit: mithyādṛṣṭi-prativirati): Không ôm ấp những ý niệm, kiến giải sai lầm, phải sáng suốt chánh kiến.
  • 24. 26 Kinh Duy- ma-cật tốt sinh về nước ấy. Tinh tấn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh siêng tu tất cả công đức sinh về nước ấy. Thiền định là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh giữ tâm chẳng loạn sinh về nước ấy. Trí huệ là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chánh định sinh về nước ấy. Bốn tâm vô lượng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh thành tựu các đức từ, bi, hỷ, xả sinh về nước ấy. Bốn pháp thâu nhiếp(1) là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh thoát khỏi chỗ nắm giữ sinh về nước ấy. Phương tiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, (1) Bốn pháp thâu nhiếp (Tứ nhiếp pháp - 四攝法 Sanskrit: catvāri- saṃgrahavastūni): bốn phương cách mà một vị Bồ Tát dùng để nhiếp phục chúng sinh: 1. Bố thí nhiếp (布施攝, Sanskrit: dāna), nghĩa là dùng việc bố thí để nhiếp phục người. 2. Ái ngữ nhiếp (愛語攝, Sanskrit: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để nhiếp phục người. 3. Lợi hành nhiếp (利行攝, Sanskrit: arthacaryā), nghĩa là dùng hành động vị tha, có lợi cho người khác để nhiếp phục họ. 4. Đồng sự nhiếp (同事攝, Sanskrit: samānārthatā), nghĩa là cùng hòa nhập, chung cùng với chúng sinh, người thiện cũng như người ác, để hướng dẫn họ đến bờ chỗ giác ngộ
  • 25. 27 Cõi Phật những chúng sinh đối với tất cả các pháp tùy nghi vô ngại sinh về nước ấy. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo(1) là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần,(2) Bốn thần túc,3 Năm căn,4 Năm sức,5 Bảy thánh giác,6 Tám (1) Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: (Tam thập thất trợ đạo phẩm, 三十七助道 品 Sanskrit: saptatriṃṣaḍbodhipākṣika-dharma) Gồm cả thảy 37 pháp, chia làm 7 nhóm: 1. Bốn niệm xứ (四念處, Tứ niệm xứ, Sanskrit: catuḥsmṛtyu-pasthāna). 2. Bốn tinh tiến (四正勤, Tứ chính cần, Sanskrit: samyak-prahā- nāni). 3. Bốn Như ý túc (四如意足, Tứ như ý túc, Sanskrit: ṛddhipāda), 4. Năm căn (五根, Ngũ căn, Sanskrit: pañcendriya). 5. Năm lực (無力, Ngũ lực, Sanskrit, Pāli: pañcabala). 6. Bảy giác chi (七覺支, Thất giác chi, Sanskrit: sapta-bodhyaṅga). 7. Bát chính đạo (八正道, Sanskrit: aṣṭāṅgika-mārga). Tổng cộng là 37 pháp, sẽ được lần lượt trình bày chi tiết trong các chú giải tiếp theo đây. (2) Tứ chánh cần (四正勤, Sanskrit: samyak-prahāṇāni, Pāli: sammā- padhāṇa): bốn phương pháp tinh tấn chuyên cần để loại trừ các pháp bất thiện. Bốn pháp tinh cần ấy là: 1. Tinh tấn trong việc ngăn ngừa, tránh làm các điều ác từ lúc còn chưa sinh khởi (Sanskrit: anutpannapāpakākuśaladharma). 2. Tinh tấn trong việc từ bỏ, vượt qua những điều ác đã sinh khởi (Sanskrit: utpanna-pāpakākuśala-dharma). 3. Tinh tấn phát triển các điều thiện đã có (Sanskrit: utpannakuśala- dharma). 4.Tinhtấnlàmchocácđiềuthiệnphátsinh(Sanskrit:anutpannakuśala- dharma). Bốn pháp tinh cần này cũng chính là Chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo.
  • 26. 28 Kinh Duy- ma-cật chánh đạo7 sinh về nước ấy. Tâm hồi hướng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, ngài được quốc độ đầy đủ tất cả công đức. Thuyết trừ tám nạn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không có Ba ác, Tám nạn.1 Tự mình giữ giới hạnh, chẳng chê kẻ khác lỗi lầm là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không nghe đến chuyện phạm cấm. Mười điều thiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, mạng sống không ngắn ngủi, chết yểu, những chúng sinh giàu có, giới hạnh trong sạch, nói lẽ thành thật, thường dùng lời êm ái, quyến thuộc chẳng chia lìa, khéo hòa việc tranh tụng, nói lời có ích, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si sinh về nước ấy. Bảo Tích! Như vậy, Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững. Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy
  • 27. 29 Cõi Phật chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Bảo Tích! Cho nên, nếu Bồ Tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh. Lúc ấy, nương oai thần của Phật, Xá-lỵ-phất có ý nghĩ này: “Nếu như tâm của Bồ Tát thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh. Như vậy, phải chăng đức Thế Tôn của chúng ta khi còn làm Bồ Tát tâm ý chẳng thanh tịnh nên cõi nước của ngài nay mới chẳng được thanh tịnh như thế này? Phật biết được ý nghĩ ấy, bảo Xá-lỵ-phất rằng: “Ý ngươi thế nào, mặt trời, mặt trăng há chẳng sáng hay sao mà kẻ mù chẳng thấy hai vầng ấy?” Xá-lỵ-phất thưa: “Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Đó là lỗi ở kẻ mù, chẳng phải lỗi ở mặt trời, mặt trăng.” “Xá-lỵ-phất! Do tội của chúng sinh, nên họ chẳng thấy quốc độ của Như Lai trang nghiêm thanh tịnh, chẳng phải lỗi của Như Lai. Xá-lỵ-phất! Cõi đất này của ta là thanh tịnh, nhưng ngươi chẳng thấy được như vậy.”
  • 28. 30 Kinh Duy- ma-cật Lúc ấy, Phạm Vương Loa Kế bảo Xá-lỵ-phất: “Đừng nghĩ như vậy, cho rằng cõi Phật này là không thanh tịnh. Vì sao vậy? Ta thấy rằng cõi Phật của đức Thích-ca Mâu- ni là thanh tịnh như cung trời Tự tại.” Xá-lỵ-phất nói: “Tôi chỉ thấy cõi này toàn là gò nổng, hầm hố, gai gốc, sỏi sạn, núi đất, núi đá, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa.” Phạm Vương Loa Kế nói: “Lòng của nhân giả có cao thấp, chẳng y theo trí huệ Phật. Vậy nên ông thấy cõi này là không thanh tịnh. Xá-lỵ-phất! Bồ Tát giữ lẽ bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, lòng dạ sâu vững thanh tịnh, y theo trí huệ Phật, ắt thấy cõi Phật này là thanh tịnh.” Lúc ấy, Phật dùng ngón chân mà nhấn xuống đất. Tức thời, cõi thế giới tam thiên đại thiên này được nghiêm sức bởi trăm ngàn thứ trân bảo, cũng giống như cõi vô lượng công đức trang nghiêm của đức Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả đại chúng đều khen rằng: “Chưa từng có!” Và ai nấy đều tự thấy mình được ngồi trên tòa sen báu. Phật hỏi Xá-lỵ-phất: “Ngươi nhìn thấy cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh rồi chứ?”
  • 29. 31 Cõi Phật Xá-lỵ-phất bạch rằng: “Dạ, Thế Tôn! Từ trước con chưa từng được thấy, chưa từng được nghe như thế này. Nay, quốc độ nghiêm tịnh của Phật đã hiện.” Phật bảo Xá-lỵ-phất: “Cõi Phật độ của ta thường thanh tịnh như vậy. Nhưng vì muốn độ những kẻ thấp kém ở đây, cho nên ta thị hiện ra cõi bất tịnh với mọi thứ nhơ xấu. “Ví như chư thiên cùng ăn cơm đựng trong chén bát quý báu, nhưng tùy theo phước đức của họ mà hình sắc của cơm có khác. Xá-lỵ-phất! Cũng vậy đó, nếu lòng người ta tịnh, liền thấy được những công đức trang nghiêm của cõi này.” Trong khi Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, năm trăm chàng con nhà trưởng giả do Bảo Tích dẫn dắt đều đắc Vô sinh pháp nhẫn.(1) Tám mươi bốn ngàn người trong hội đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam- miệu Tam-bồ-đề. Phật lấy ngón chân thần lên, thế giới liền trở lại như cũ. Ba mươi hai ngàn chư thiên và những người cầu Thanh (1) Vô sinh pháp nhẫn: Đức nhẫn nhục của người giác ngộ nhờ nhận ra được rằng: thật không có chúng sinh, thật không có các pháp, các chúng sinh (hữu tình) và các pháp (vô tình) vốn không sinh, không diệt. Nhận thức như vậy, người tu không còn khởi lên sự buồn giận đối với chúng sinh phá hại mình, đối với các pháp ngăn trở mình.
  • 30. 32 Kinh Duy- ma-cật văn thừa hiểu ra được rằng các pháp hữu vi là vô thường, liền xa trần cảnh, lìa cấu nhiễm, được Pháp nhãn tịnh.(1) Tám ngàn vị tỳ-kheo chẳng thọ nạp các pháp, dứt phiền não rỉ chảy, tâm ý được giải thoát. (1) Pháp nhãn tịnh hay Pháp nhãn (法眼; Sanskrit: dharmacakṣus): mắt pháp thanh tịnh, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu. Người tu Thanh văn thừa, khi đắc pháp nhãn tịnh, thấy được trần thế là giả dối ô trược, bèn chán ngán sự đời mà vui với đạo lý, hướng đến Niết-bàn. Đắc Pháp nhãn tịnh cũng tức là đắc quả đầu tiên trong 4 thánh quả của Thanh văn thừa: quả Tu-đà-hoàn. Quả cao nhất là quả A-la-hán. Pháp nhãn tịnh hay Kiến pháp thanh tịnh cũng là địa vị đầu tiên trong Thập địa của Bồ Tát, gọi là Hoan hỷ địa.
  • 31. 33 Cõi Phật
  • 32. 34 Phẩm thứ hai PHƯƠNG TIỆN Lúc ấy, trong thành lớn Tỳ-da-ly có một vị trưởng giả tên là Duy-ma-cật. Ấy là người đã từng cúng dường vô lượng các đức Phật, trồng sâu căn lành; được đức nhẫn vô sinh, biện tài vô ngại, du hí thần thông, nắm được các phép tổng trì, đạt được pháp vô sở úy;(1) hàng phục chúng ma, vỗ về những kẻ oán hờn; đã vào được pháp môn sâu xa vi diệu, giỏi về phép trí huệ,(2) thông đạt phương tiện; thành tựu nguyện lớn, biết rõ chỗ xu hướng trong tâm của mỗi chúng sinh, phân biệt được những căn tánh lanh lợi hoặc chậm lụt. Đối với đạo Phật, từ lâu trong tâm ngài đã thuần thục, chí quyết về Đại thừa. Mỗi khi làm việc chi, ngài đều (1) Vô sở úy: không gì có thể làm cho sợ sệt. Vị đã chứng được pháp này có thể an nhiên vững vàng đối với tất cả các pháp không hề sinh tâm sợ sệt. Có 4 pháp vô sở úy của Phật và 4 pháp vô sở úy của hàng Bồ Tát. Ở đây chỉ các pháp vô sở úy của hàng Bồ Tát, đó là: 1. Tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy 2. Tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy 3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy 4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy (2) Tức là Trí độ (Sanskrit: prajñāparamitā), dịch âm là Bát-nhã ba-la-mật- đa, viết đủ là Trí huệ độ, là hạnh thứ sáu trong sáu hạnh của Bồ Tát (Lục Ba-la-mật).
  • 33. 35 Phương tiện khéo suy xét, liệu lường. Ngài trụ nơi oai nghi của Phật, lòng dạ rộng lớn như biển cả. Chư Phật khen ngợi, những đệ tử là Đế-thích và Phạm vương, chúa cõi thế giới đều kính trọng ngài. Vì muốn cứu độ chúng nhân nên ngài dùng phương tiện khéo cư ngụ tại thành Tỳ-da-ly. Dùng tài sản nhiều không kể xiết, ngài nhiếp phục những kẻ nghèo; dùng giới luật thanh tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ phạm giới cấm; dùng nhẫn nhục nhu hòa,(1) ngài nhiếp phục những kẻ hay nóng giận; dùng sức tinh tấn mạnh mẽ, ngài nhiếp phục những kẻ lười nhác, giải đãi; dùng nhất tâm thiền tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ tâm ý tán loạn; dùng trí huệ chắc quyết, ngài nhiếp phục những kẻ vô trí. Tuy là cư sĩ,(2) nhưng ngài kính giữ luật hạnh thanh tịnh của bậc sa-môn. Tuy ở tại nhà, nhưng ngài chẳng vướng vào ba cõi. Thị hiện có vợ con, nhưng ngài thường tu hạnh thanh tịnh.(3) Thị hiện có quyến thuộc, nhưng ngài thường thích rời xa. Tuy phục sức đồ quý báu nhưng ngài cốt dùng các tướng (1) Nhẫn điều hạnh (忍調行 Sanskrit: sauratya-kṣānti): hạnh nhẫn nhục nhu hòa. (2) Nguyên văn dùng bạch y (áo trắng), chỉ người đệ tử Phật tu tại gia, tức là cư sĩ, phân biệt với hàng xuất gia mặc áo vàng hay áo hoại sắc. (3) Phạm hạnh (Sanskrit: Brahmacarya, Pāli: Brahmacariya) hay Tịnh hạnh, là hạnh tu trong sạch, ý nói xa lìa sự dâm dục.
  • 34. 36 Kinh Duy- ma-cật tốt để trang nghiêm thân mình. Tuy vẫn ăn uống, nhưng ngài lấy niềm vui hành thiền làm món ăn ngon. Nếu có đến nơi cờ bạc, ngài dùng nơi đó để hóa độ người. Mặc dầu thọ học đạo khác, ngài chẳng chê bỏ chánh tín. Tuy hiểu rành sách vở thế gian, nhưng ngài thường hâm mộ pháp Phật. Thấy ai ngài cũng kính nhường, lấy sự cúng dường làm trọng. Nắm giữ Chánh pháp, ngài nhiếp phục được kẻ lớn người nhỏ. Trong mọi cuộc cộng tác làm ăn, mặc dầu thu được những món lợi thế tục, nhưng ngài không lấy đó làm vui. Dạo chơi nơi ngả tư đường, ngài thường giúp ích cho chúng sinh. Dự vào việc chính trị, ngài cứu hộ tất cả nhân dân. Vào nơi giảng luận, ngài đem Đại thừa mà dắt dẫn người nghe. Vào chốn học đường, ngài khuyến dụ và khai hóa trẻ em. Vào chốn lầu xanh, ngài chỉ rõ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào các quán rượu, ngài lập chí hướng thiện cho những người ở đó. Nếu ở tại nhóm trưởng giả,(1) ngài được tôn trọng, bèn nói pháp cao trổi cho họ nghe. Nếu ở tại nhóm cư sĩ, (1) Trưởng giả, thủ-đà-la, sát-lỵ và bà-la-môn là bốn giai cấp ở Ấn độ, theo thứ tự dưới đây: a) Bà-la-môn (Sanskrit: brāhmana): hàng tu sĩ, các bậc thầy giữ việc cúng tế. b) Sát-lỵ hay sát-đế-lỵ (Sanskrit: katriya): hàng vua chúa, quan tướng c) Trưởng giả, hay phệ-xá (Sanskrit: vaiya), hàng thương nhân giàu có d) Thủ-đà-la (Sanskrit: sudra), những người làm ruộng, làm các nghề bình thường
  • 35. 37 Phương tiện ngài được tôn trọng, bèn dứt mối tham trước của họ. Nếu ở tại nhóm sát-lỵ, ngài được tôn trọng, bèn đem pháp nhẫn nhục mà giáo hóa họ. Nếu ở tại nhóm bà-la-môn, ngài được tôn trọng, bèn dứt trừ lòng ngã mạn(1) của họ. Nếu ở tại nhóm đại thần, ngài được tôn trọng, bèn đem phép chính trị mà chỉ dạy cho họ. Nếu ở tại nhóm vương tử, ngài được tôn trọng, bèn chỉ cho họ nết trung nết hiếu. Nếu ở tại nhóm nội quan,(2) ngài được tôn trọng, bèn dạy bảo cho các cung nữ trở nên chính trực. Nếu ở trong hàng dân dã, ngài được tôn trọng, liền khiến cho phước lực của họ được hưng thạnh. Nếu ở tại cảnh Phạm thiên, ngài được các vị Phạm thiên tôn trọng, liền giáo hóa các vị này về pháp trí huệ thắng diệu. Nếu ở tại cảnh trời Đế-thích, ngài được chư thiên cảnh trời Đế-thích tôn trọng, liền thị hiện cuộc vô thường bại hoại. Nếu ở cảnh trời Hộ thế, ngài được bốn vị Thiên vương Hộ thế tôn trọng, liền phò hộ chúng sinh. Trưởng giả Duy-ma-cật dùng vô số các phương tiện như vậy mà giúp ích cho chúng sinh. Người cũng dùng (1) Ngã mạn: tự cao, kiêu căng, luôn tự cho mình là tài giỏi hoặc cao quý hơn kẻ khác. (2) Nội quan: các vị quan cao niên có nhiều đức độ được tuyển vào trong nội cung của vua để dạy dỗ, cai quản các cung nữ, khác với nội quan ở Trung Hoa là các thái giám.
  • 36. 38 Kinh Duy- ma-cật phương tiện hiện ra thân mình có bệnh. Vì người đang bệnh, nên các hàng quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn cùng các vương tử quan thuộc, vô số ngàn người đều đến thăm hỏi bệnh người. Với những người đến thăm ấy, Duy-ma-cật nhân việc thân có bệnh mà thuyết pháp rộng rãi với họ: “Các nhân giả! Thân này là không thường tồn, không có sức mạnh, không bền chắc. Nó là vật mau hư hoại, không thể tin vào nó được. Nó là khổ, là não, các bệnh đều tụ tập vào nó. “Các nhân giả! Như cái thân này đây, bậc minh trí không nương cậy vào nó được. Thân này như bọt đọng mà người ta không thể sờ nắm. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài. Thân này như nháng lửa, nó do sự khát khao ái dục mà sinh ra. Thân này như cây chuối, bên trong chẳng bền chắc gì. Thân này như món đồ ảo thuật, do nơi sự xáo trộn mà khởi ra. Thân này như chiêm bao, thấy nó là hư vọng chẳng thật. Thân này như cái bóng, nó theo nghiệp duyên mà hiện ra. Thân này như tiếng dội, nó phụ thuộc các nhân duyên. Thân này như mây nổi, trong phút chốc đã biến mất. Thân này như tia chớp, chẳng ở yên một phút nào! “Thân này không chủ, cũng như đất. Thân này không phải ta, cũng như lửa. Thân này không sống lâu, cũng
  • 37. 39 Phương tiện như gió. Thân này không phải người, cũng như nước. Thân này chẳng thật, nó lấy bốn đại: đất, nước, lửa, gió làm nhà. Thân này là trống không, nó lìa ta và vật của ta. Thân này không biết chi hết; nó như cỏ, cây, gạch, sỏi. Thân này không làm gì hết, nó bị sức gió chuyển dời. Thân này là bất tịnh, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa. Thân này là hư ngụy, dẫu nó có tạm dùng những việc tắm, rửa, ăn mặc, nhưng rồi nó cũng mòn dứt mà thôi! Thân này là tai hại, mang lấy một trăm lẻ một bệnh não.(1) Thân này như gò đất, giếng nước, nó bị cái già hiếp bức. Thân này không kiên định, có ngày phải chết. Thân này như rắn độc, như kẻ cướp oán thù, như xóm nhà không người, các ấm, nhập, giới(2) phối hợp mà làm thành cái thân. (1) Một trăm lẻ một bệnh não (bá nhất bệnh não): thân người ta hợp bởi bốn đại (tứ đại): đất, nước, lửa, gió (địa, thủy, hỏa, phong). Nếu một trong bốn đại gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 101 bệnh não. Nếu cả bốn đại đều gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 404 bệnh não. Đây đều là những cách nói tượng trưng để biểu thị là có rất nhiều bệnh não. (2) Các ấm, nhập, giới bao gồm: a) Ấm: gồm năm ấm (ngũ ấm hay ngũ uẩn) là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. b) Nhập: có mười hai nhập là sáu căn nhập với sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý), sáu trần là: hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc chạm, các pháp (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). c) Giới: gồm mười tám giới, sáu căn bên trong, sáu trần bên ngoài, sáu thức ở giữa. Như nhãn căn, sắc trần và nhãn thức cùng hợp lại sinh ra sự thấy biết..
  • 38. 40 Kinh Duy- ma-cật “Các nhân giả! Thân này đáng lo, đáng chán, mà nên ưa thích thân Phật. Tại sao vậy? Thân Phật tức là Pháp thân, do vô lượng cúng dường trí huệ mà sinh ra; do các pháp: giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến mà sinh ra; do những đức từ, bi, hỷ, xả mà sinh ra; do các ba- la-mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ mà sinh ra; do phương tiện mà sinh ra; do sáu thần thông(1) mà sinh ra; do ba minh2 mà sinh ra; do ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà sinh ra; do chỉ quán mà sinh ra; do mười sức, bốn vô sở úy,3 mười tám pháp bất cộng mà sinh ra; do việc cắt đứt tất cả các pháp chẳng lành, (1) Sáu thông (Lục thông hay Lục thần thông六神通, Sanskrit: ṣaḍ abhijñāḥ) là sáu phép thần thông tự tại của Phật. Đó là: 1. Thần cảnh thông (神境通), cũng còn gọi là Thân thông (身通), Thân như ý thông (身如意通), Thần túc thông (神足通). 2. Thiên nhãn thông (天眼通): có thể nhìn thấy toàn bộ tiến trình lưu chuyển của chúng sinh qua 6 cõi luân hồi. 3. Thiên nhĩ thông (天耳通): có thể nghe được toàn thể những tiếng khổ vui mà chúng sinh trải qua trong 6 cõi luân hồi. 4. Tha tâm thông (他心通): năng lực nhận biết tâm niệm của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi. 5. Túc mạng thông (宿命通): còn gọi là Túc trú thông (宿住通): năng lực nhận biết mọi sự việc xảy ra trong vô lượng kiếp trước mà chúng sinh đã trải qua, cũng như biết được toàn bộ thọ mạng của chúng sinh trong trong 6 cõi luân hồi. 6. Lậu tận thông (漏盡通): năng lực chuyển hoá toàn bộ phiền não trong ba cõi, nên không còn là đối tượng của sinh diệt trong ba cõi nữa. Trong các phép thần thông kể trên, phép thứ 2, thứ 5 và thứ 6 cũng chính là Tam minh (三明).
  • 39. 41 Phương tiện nhóm họp tất cả các pháp lành mà sinh ra; do chân thật mà sinh ra; do chẳng phóng dật mà sinh ra. Do vô lượng pháp thanh tịnh như vậy mà thân Như Lai sinh ra. “Các nhân giả! Muốn được thân Phật dứt hết các bệnh của chúng sinh, nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.” Trưởng giả Duy-ma-cật thuyết pháp như vậy với những người thăm bệnh, khiến cho vô số ngàn người đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.
  • 40. 42 Phẩm thứ ba ĐỆ TỬ L úc ấy, trưởng giả Duy-ma-cật bệnh nằm trên giường, tự nghĩ rằng: “Đức Thế Tôn đại bi! Ngài há chẳng đoái thương con sao?” Phật biết ý nghĩ ấy, liền bảo Xá-lỵ-phất:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh người.” (1) Xá-lỵ-phất (Sanskrit: Śāriputra, Pāli: Sāriputta): dịch nghĩa là Thu tử, một vị đại đệ tử của Phật Thích-ca, được Phật nhận là Trí huệ đệ nhất trong các đệ tử của ngài. Xá-lỵ-phất xuất thân từ một gia đình Bà-la- môn. Sau khi đức Phật giác ngộ, Xá-lỵ-phất cùng bạn thân là ngài Mục- kiền-liên gia nhập Tăng-già. Tôn giả đã mất trước ngày Phật nhập diệt khoảng vài tháng. Trước khi theo học với Phật, Xá-lị-phất là một người đầy nghi ngờ. Theo kinh sách, Tôn giả trở thành đệ tử của Phật sau khi gặp một tỳ-kheo là A-thuyết-thị (Sanskrit: Assaji). Thấy gương mặt sáng ngời trang nghiêm, phong độ nhàn nhã của A-thuyết-thị, Tôn giả liền hỏi ông ta đặt niềm tin nơi ai. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ, được gọi là Duyên khởi kệ: 若法因緣生 法亦因緣滅 是生滅因緣 佛大沙門說
  • 41. 43 Đệ tử Xá-lỵ-phất bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm hỏi bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đang ở trong rừng, ngồi yên dưới một cội cây. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Xá-lỵ-phất! Chẳng cần ngồi như vậy mà gọi là ngồi yên. Nếu ngồi yên thì chẳng hiện thân và ý trong ba cõi, như vậy là ngồi yên. Chẳng khởi diệt định mà hiện các oai nghi, như vậy là ngồi yên. Chẳng bỏ đạo pháp mà hiện việc phàm phu, như vậy là ngồi yên. Đối với các kiến giải, tâm chẳng động, bèn tu hành ba mươi bảy phẩm trợ đạo, như vậy là ngồi yên. Chẳng cắt đứt phiền não mà vào Niết-bàn, như vậy là ngồi yên. Nếu ngồi được như vậy sẽ được Phật nhận cho là tốt.’ “Thế Tôn! Lúc đó nghe xong mấy lời ấy, con lặng thinh chẳng đáp lại được. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Đại Mục-kiền-liên:(1) “Ngươi hãy đến nhà Nhược pháp nhân duyên sinh Pháp diệc nhân duyên diệt Thị sinh diệt nhân duyên Phật đại sa-môn thuyết. Các pháp nhân duyên sinh Cũng theo nhân duyên diệt
  • 42. 44 Kinh Duy- ma-cật Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh người.” Mục-liên bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con vào thành lớn Tỳ-da-ly, ở trong một ngõ xóm mà thuyết pháp với các cư sĩ. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Đại Mục-liên! Có thuyết pháp với cư sĩ áo trắng, chẳng nên thuyết như ngài vậy. Người thuyết pháp nên y như pháp mà thuyết. Pháp không có chúng sinh, nên lìa khỏi cấu trược của chúng sinh. Pháp không có ta, nên lìa khỏi cấu trược của ta. Pháp không có thọ mạng, nên lìa khỏi sinh tử. Pháp không có người, nên dứt hết khoản trước và khoản sau. Pháp thường yên lặng, nên dứt hết các tướng. Pháp lìa khỏi tướng, nên không có chỗ duyên leo. Pháp không có danh tự, nên dứt hết ngôn ngữ. Pháp không có Nhân duyên sinh diệt này Phật đại sa-môn thuyết. Nghe xong, Xá-lị-phất liền trực nhận ngay về chân lý “Có sinh thì có diệt”, liền thuật lại cho bạn thân là Mục-kiền-liên rồi hai người đến xin Phật cho gia nhập Tăng-già, trở thành đệ tử Phật. (1) Đại Mục-kiền-liên (Sanskrit: Mahā Maudgalyāyana, Pāli: Mahā Moggallāna): Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Thần thông đệ nhất trong các đệ tử của ngài. Ngài là bạn thân với tôn giả Xá-lỵ- phất trước khi xuất gia. Chính Xá-lỵ-phất sau khi đặt niềm tin ở Phật đã rủ ngài cùng xuất gia theo Phật.
  • 43. 45 Đệ tử thuyết diễn, nên lìa khỏi giác quan. Pháp không có hình tướng, nên giống như hư không. Pháp không có hí luận, nên tất cánh là không. Pháp không có vật của ta, nên lìa vật của ta. Pháp không có phân biệt, nên lìa khỏi các thức. Pháp không có chỗ so sánh, nên không có sự đối đãi. Pháp chẳng do nơi nhân, nên chẳng ở tại duyên. Pháp đồng tánh với nhau, nên thiệp nhập với các pháp. Pháp tùy theo lẽ như như, nên không tùy theo đâu cả. Pháp trụ ở thực tế, nên các bên đều chẳng khởi động. Pháp không có lay động, nên chẳng đeo theo sáu trần: hình sắc, âm thanh, mùi ngửi, vị nếm, xúc cảm, các pháp. Pháp không có đi, không có lại, nên thường chẳng trụ. Pháp thuận với không, tùy theo vô tướng, ứng với vô tác. Pháp lìa khỏi tốt và xấu. Pháp không có thêm và bớt. Pháp không có sinh và diệt. Pháp không có chỗ về. Pháp vượt khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm. Pháp không có cao và thấp. Pháp thường trụ chẳng động. Pháp lìa khỏi tất cả mọi sự quán sát và hành đạo. ‘Thưa ngài, tướng pháp là như vậy, há thuyết diễn được sao? Này, người thuyết pháp thì không nói, không chỉ. Kẻ nhận pháp thì không nghe, không đắc. Như nhà ảo thuật thuyết pháp với người ảo hóa. Nên lập xong cái ý niệm ấy rồi mới thuyết pháp. Nên hiểu rõ căn tánh lanh lợi hoặc chậm lụt của chúng sinh. Phải thấy biết cho
  • 44. 46 Kinh Duy- ma-cật rành rẽ, không chi trở ngại. Đem lòng đại bi xưng tán Đại thừa. Nhớ báo đáp ơn Phật, đừng dứt lìa Tam bảo. Được như vậy rồi, mới có thể thuyết pháp.’ “Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy rồi, tám trăm cư sĩ phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Con không có biện tài như thế. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Đại Ca-diếp:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma- cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Ca-diếp bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đi khất thực trong một xóm nhà nghèo. Bấy giờ Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Đại Ca-diếp! Ngài có lòng từ bi, nhưng lại chẳng rộng khắp, ngài bỏ nhà giàu sang để đến nhà nghèo hèn mà khất thực. ‘Thưa ngài, hãy trụ nơi pháp bình đẳng, theo thứ tự nhà cửa mà đi khất thực. Vì chẳng ăn, mới nên đi khất thực. Vì bỏ tướng hòa hiệp, mới nên bốc lấy thức ăn. Vì chẳng thọ nhận, mới nên thọ nhận đồ ăn ấy. Vì xem làng (1) Đại Ca-diếp (Sanskrit: Mahā-Kāśyapa, Pāli: Mahā-Kassapa): Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Đầu đà đệ nhất (Bậc nhất về việc tu khổ hạnh) trong các đệ tử của ngài.
  • 45. 47 Đệ tử xóm như nơi không dân cư, nên mới đi vào xóm làng. Chỗ thấy hình sắc với chỗ không nhìn thấy của kẻ mù đều như nhau. Âm thanh nghe được với tiếng dội lại đều như nhau. Mùi ngửi với gió đều như nhau. Những món mà mình ăn, mình chẳng phân biệt mùi vị. Thọ cảm sự đụng cọ, dường như trí chứng. Hiểu biết các pháp như tướng ảo hóa: không có tánh của mình, không có tánh của vật khác; xưa vốn chẳng cháy, nay cũng không tắt. ‘Thưa ngài, nếu có thể chẳng bỏ tám tà(1) vào tám giải thoát,(2) dùng tướng tà mà vào pháp chánh, đem một (1) Tám tà (Bát tà), tức là tám tà đạo, đối lại với tám chánh đạo (Bát chánh đạo). Tám tà ấy là: Tà kiến, Tà tư duy, Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, Tà phương tiện, Tà niệm và Tà định. (2) Tám giải thoát (Bát giải thoát, Sanskrit: astavimokasa). Tám môn giải thoát, gồm có: 1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát: (内有色想觀外色解 脱) Ở trong sắc giới, quán nội sắc và ngoại sắc, nhằm bỏ tâm ham thích sắc thể . 2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát: (内無色想觀外色解脱) Không quán nội sắc, quán ngoại sắc, nhận ngoại sắc là ô nhiễm. 3. Tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát: (淨身作證具足作解脱) Quán tưởng về thanh tịnh nhưng không bám giữ. 4. Không vô biên xứ giải thoát: (空無邊處解脱) Vượt qua sắc thể, quán tưởng rằng hư không là vô biên. 5. Thức vô biên xứ giải thoát (識無邊處解脱) đạt đến ý niệm thức là vô biên. 6. Vô sở hữu xứ giải thoát: (無所有處解脱) đạt địa vị trong tâm không còn có vật gì.
  • 46. 48 Kinh Duy- ma-cật bữa ăn mà thí cho tất cả, cúng dường chư Phật với Hiền Thánh Tăng, làm được như vậy rồi mới nên ăn. Người ăn như vậy, chẳng phải có phiền não, chẳng phải lìa phiền não, chẳng phải vào định ý, chẳng phải ra định ý, chẳng phải trụ thế gian, chẳng phải trụ Niết-bàn. Ai thí cho người ấy, không có phước lớn, không có phước nhỏ, chẳng làm lợi ích, chẳng làm tổn hại. Đó là vào Phật đạo một cách chánh trực, chẳng nương theo Thanh văn. ‘Thưa ngài, nếu mình ăn được như vậy là chẳng ăn luống của người ta thí.’ “Thế Tôn! Lúc ấy, nghe thuyết như vậy, con được việc chưa từng có! Liền đó, đối với tất cả Bồ Tát, con khởi lòng kính trọng một cách sâu đậm. Con lại nghĩ rằng: ‘Ông ấy có gia thế danh tiếng, nên trí huệ biện tài mới được như vậy. Ai nghe mà chẳng phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề?’ Từ đó về sau, con chẳng còn khuyên người ta theo hạnh Thanh văn và hạnh Bích chi Phật. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy.” 7. Phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát: (非想非非想處解脱) đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 8. Diệt tận định giải thoát: (滅盡定解脱) ñaït mức định Dieät thoï töôûng xứ.
  • 47. 49 Đệ tử Phật bảo Tu-bồ-đề:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con có vào nhà ông ấy mà khất thực. Bấy giờ, Duy-ma-cật rước lấy bát, đơm đầy cơm, rồi nói với con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Tu-bồ-đề! Nếu mình có thể coi các món ăn như nhau, thời các pháp cũng bình đẳng như nhau. Các pháp bình đẳng như nhau, thời các món ăn cũng bình đẳng như nhau. Nếu ngài khất thực được như vậy, mới có thể nhận lãnh món ăn. Như Tu-bồ-đề chẳng cắt dứt dâm, nộ, si, cũng chẳng chung cùng với ba thứ ấy. Chẳng bỏ cái thân, nhưng tùy theo cái tướng duy nhất. Chẳng dứt si ái, khởi ra giải thoát. Dùng năm tướng nghịch mà được giải thoát. Cũng chẳng có cởi mở, chẳng có trói buộc. Chẳng thấy bốn đế,(2) chẳng (1) Tu-bồ-đề (Sanskrit, Pāli: Subhūti), dịch nghĩa là: Thiện hiện, Thiện cát, Thiện nghiệp. Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Giải Không đệ nhất trong các đệ tử của ngài. (2) Bốn đế (Tứ diệu đế 四妙諦; Sanskrit: catvāri ārya-satyāni; Pāli: cattāri ariya-saccāni; cũng gọi là Tứ thánh đế (四聖諦): bốn chân lí cao cả, là một trong các giáo lý cơ bản của đạo Phật. Bốn chân lí đó là: 1. Khổ đế (苦諦; Sanskrit: duḥkhasatya), chân lí về sự khổ, chỉ ra mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (五蘊;
  • 48. 50 Kinh Duy- ma-cật phải chẳng thấy bốn đế. Chẳng phải đắc quả, chẳng phải chẳng đắc quả. Chẳng phải phàm phu, chẳng phải lìa pháp phàm phu. Chẳng phải thánh nhân, chẳng phải khác thánh nhân. Tuy thành tựu tất cả pháp, nhưng lìa khỏi tướng các pháp. Như vậy mới có thể nhận lãnh món ăn.’ ‘Nếu Tu-bồ-đề chẳng gặp Phật, thời sáu thầy ngoại đạo(1) kia: Phú-lan-na Ca-diếp, Mạt-già-lê Câu-xa-lê Sanskrit: pañcaskandha; Pāli: pañcakhandha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ. 2. Tập khổ đế (集苦諦; Sanskrit: samudayasatya), chân lí về sự phát sinh của khổ, chỉ ra rằng nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, là ái (愛; Sanskrit: tṛṣṇā; Pāli: taṇhā) hay ái dục, tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của luân hồi (輪迴; Sanskrit, Pāli: saṃsāra). 3. Diệt khổ đế (滅苦諦; Sanskrit: duḥkhanirodhasatya), chân lí về diệt khổ, chỉ ra rằng một khi gốc của mọi tham ái được diệt bỏ thì sự khổ cũng chấm dứt. 4. Đạo đế (道諦; Sanskrit: mārgasatya), chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ, chỉ ra phương pháp để diệt khổ là con đường chân chánh (Bát chánh đạo). Người không thấu hiểu Tứ diệu đế tức là còn bị Vô minh (無明; Sanskrit: avidyā; Pāli: avijjā) che lấp. Thông qua sự khám phá ra Tứ diệu đế, đức Phật đạt đến sự giác ngộ (覺 ; Sanskrit, Pāli: bodhi). Ngài bắt đầu giáo hoá chúng sinh bằng giáo pháp này tại Lộc uyển. (1) Sáu thầy ngoại đạo (Lục sư ngoại đạo): Sáu vị luận sư lớn đồng thời với Phật, chủ trương những giáo lý trái với lời Phật dạy. Sáu vị ấy là: 1. Xan-xà-dạ Tỳ-la-đê tử (刪闍夜毘羅胝子, Pāli: Sañjaya-velaṭṭhi- putta). 2. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (阿耆多翅舍欽婆羅, Pāli: Ajita-kesa- kambarin).
  • 49. 51 Đệ tử tử, Xan-xà-dạ Tỳ-la-đê tử, A-kỳ-đa Sí-xá-khâm-bà-la, Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên, Ni-kiền-đà Nhã-đề tử sẽ là thầy của ngài. Nhân ngài xuất gia theo họ, các thầy đọa lạc, ngài cũng theo đó mà đọa lạc. Như vậy mới có thể nhận lãnh món ăn.’ ‘Nếu Tu-bồ-đề vào các ý kiến tà, chẳng tới bờ bên kia, ở nơi tám nạn, chẳng đặng khỏi nạn, đồng với phiền não, lìa pháp thanh tịnh. Ngài được Tam-muội Vô tranh. Tất cả chúng sinh cũng được phép định ấy. Những người thí cho ngài, chẳng phải là phước điền. Những kẻ cúng dường cho ngài, đọa vào ba nẻo dữ. Ngài bắt tay với chúng ma, làm bạn với ma. Ngài chẳng khác chi chúng ma và các phiền não trần lao. Ngài có lòng oán hận đối với tất cả chúng sinh. Ngài chê Phật, khinh Pháp, chẳng gia nhập Tăng-già, rốt cuộc chẳng vào Niết-bàn. Nếu ngài được như vậy, mới có thể nhận lãnh món ăn.’ “Bạch Thế Tôn! Lúc ấy nghe như vậy, con lấy làm hoang mang. Chẳng hiểu ông ấy nói gì, chẳng biết trả lời làm sao! Con liền đặt bát xuống, định ra khỏi nhà ông ấy. 3. Mạt-già-lê Câu-xa-lê tử (末伽梨拘賒梨子, Pāli: Makkhali-gosāla). 4. Phú-lan-na Ca-diếp (富蘭那迦葉, Pāli: Purāṇa-kassapa). 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (迦羅鳩馱迦旃延, Pāli: Pakudha- kaccāyana). 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề tử (尼犍陀若提子, Pāli: Nigaṇṭha-nātaputta).
  • 50. 52 Kinh Duy- ma-cật “Duy-ma-cật nói: ‘Dạ, Tu-bồ-đề, xin ngài hãy cầm lấy bát, đừng sợ. Ý ngài nghĩ sao, như đức Như Lai có tạo ra những người ảo hóa, nếu tôi đem việc ấy mà hỏi ngài, ngài có sợ chăng?’ Con đáp lại: ‘Không sợ.’ Duy-ma-cật liền nói: ‘Tất cả các pháp dường như tướng ảo hóa, nay ngài không nên sợ chi cả. Tại sao vậy? Tất cả lời nói cũng chẳng lìa khỏi tướng ảo hóa ấy. Cho đến bậc trí giả cũng chẳng chấp trước văn tự. Cho nên không có chi phải sợ. Vì lẽ gì vậy? Tánh của văn tự là lìa. Không có văn tự, đó là giải thoát. Tướng của giải thoát, đó là các pháp.’ “Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy rồi, hai trăm vị tiên trên trời liền đắc Pháp nhãn tịnh. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Phú-lâu-na bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con ở tại một khu rừng lớn, dưới một cội cây, thuyết pháp với những tỳ-kheo mới tu học. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến (1) Phú-lâu-na Di-đa-la-ni tử (Sanskrit: Purṇa-maitrāyaniputra), dịch nghĩa: Mãn từ tử. Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Thuyết pháp đệ nhất trong các đệ tử của ngài.
  • 51. 53 Đệ tử bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Phú-lâu-na! Trước hết ngài nên nhập định, quán xét tâm tánh của những người này. Rồi đó, ông mới nên thuyết pháp. Đừng đặt món ăn dơ vào cái bát quý. Nên biết chỗ niệm tưởng trong tâm của những tỳ-kheo này. Đừng cho rằng ngọc lưu ly này đồng hàng với thủy tinh kia. Ông chẳng biết được căn cơ của chúng sinh, không được phát khởi bằng pháp Tiểu thừa. Tự người ta không có dấu vết, đừng gây thương tích cho họ. Người ta muốn đi đường lớn, đừng chỉ nẻo nhỏ cho họ. Đừng đem biển cả mà nhét vào dấu chân bò. Đừng đặt ánh sáng mặt trời ngang hàng với nháng lửa đom đóm.’ ‘Thưa ngài Phú-lâu-na! Những tỳ-kheo này đã phát tâm Đại thừa từ lâu. Giữa chừng, họ quên ý ấy. Sao nay ngài dẫn dắt họ bằng pháp Tiểu thừa? Tôi nhìn thấy trí huệ Tiểu thừa là hạn hẹp, giống như những kẻ mù, chẳng phân biệt được căn lanh lợi với căn chậm lụt của tất cả chúng sinh.’ “Lúc ấy, Duy-ma-cật liền vào Tam-muội, khiến các tỳ- kheo ấy nhớ lại đời trước của mình. Các vị đã từng trồng căn lành đối trước năm trăm đức Phật, hồi hướng cầu thành quả Phật. Ngay khi ấy, các vị sáng bừng, lấy trở lại tấm lòng xưa của mình. Lúc đó, chư tỳ-kheo đảnh lễ sát chân Duy-ma-cật.
  • 52. 54 Kinh Duy- ma-cật “Liền đó, Duy-ma-cật thuyết pháp với các vị. Đối với quả Phật, các vị không còn thối chuyển. Từ đó con luôn nghĩ rằng, vị Thanh văn nào chẳng quán thấy căn tánh của người ta, chẳng nên thuyết pháp. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Ma-ha Ca-chiên-diên:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Ca-chiên-diên bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, Phật thuyết sơ lược những chỗ cốt yếu của pháp với chư tỳ-kheo. Sau đó, con diễn rộng nghĩa của những chỗ cốt yếu ấy, là nghĩa vô thường, nghĩa khổ, nghĩa không, nghĩa vô ngã, nghĩa tịch diệt. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Ca-chiên-diên! Đừng đem tâm hạnh sinh diệt mà nói Pháp thật tướng. ‘Thưa ngài Ca-chiên-diên! Các pháp tất cánh chẳng sinh, chẳng diệt: đó là nghĩa vô thường. Năm ấm mà người ta thọ lấy, đều trống rỗng, không không, chẳng có chỗ khởi: đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt cuộc không có sở hữu: đó là nghĩa không. Ngã và vô ngã vốn chẳng hai: đó (1) Ma-ha Ca-chiên-diên (Sanskrit: Mahā-kātyāyana): Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Luận nghĩa đệ nhất trong các đệ tử của ngài.
  • 53. 55 Đệ tử là nghĩa vô ngã. Pháp xưa chẳng cháy, nay cũng chẳng tắt: đó là nghĩa tịch diệt.’ “Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, tâm ý của chư tỳ-kheo đều được giải thoát. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo A-na-luật:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma- cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” A-na-luật bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, khi con đang kinh hành tại một nơi kia. Bấy giờ có vị Phạm vương tên là Nghiêm Tịnh, có một một muôn vị Phạm thiên theo hầu. Phạm vương ấy phóng hào quang trong sạch, đi lại chỗ con, cúi đầu lễ lạy, hỏi con rằng: ‘Thưa ngài A-na-luật! Thiên nhãn của ngài thấy được bao xa?’ “Con liền đáp rằng: ‘Nhân giả! Ta thấy rõ cõi Phật này của đức Thích-ca Mâu-ni, trọn thế giới tam thiên đại thiên, cũng như người ta nhìn trái am-ma-lặc để trong lòng bàn tay.’ (1)A-na-luật, cũng viết: A-nậu-lâu-đà (Sanskrit: Aniruddha), dịch nghĩa: Như ý, Vô tham, Bất Diệt, Vô Diệt. Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Thiên nhãn đệ nhất trong các đệ tử của ngài.
  • 54. 56 Kinh Duy- ma-cật “Bấy giờ, Duy-ma-cật đi đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài A-na-luật! Chỗ thấy của thiên nhãn là tướng tạo tác hay tướng không tạo tác? Giả sử là tướng tạo tác, thì cũng như năm phép thần thông(1) của ngoại đạo. Nếu là tướng không tạo tác, tức là vô vi. Như vậy, chẳng nên thấy.’ “Thế Tôn! Lúc ấy con nín lặng. Những vị Phạm thiên nghe Duy-ma-cật nói, được sự chưa từng có. Liền đảnh lễ (1) Năm phép thần thông (Ngũ thông): Là các phép thần thông đạt được do sự tu tập. Ngoại đạo cũng đạt những thần thông này nhưng còn bị trói buộc, giới hạn, không giống như của bậc giác ngộ chân chánh. Các phép đó là: 1. Thần túc thông: Có thể đi lại bất kì nơi nào tùy ý. 2. Thiên nhãn thông: Có thể thấy được suốt khắp. 3. Thiên nhĩ thông: Có thể nghe được mọi chuyện. 4. Tha tâm thông: Có thể thấu rõ ý nghĩ trong tâm người khác. 5. Túc mệnh thông: Có thể biết rõ những kiếp trước. Các phép thần thông này khi đạt đến bằng sự giác ngộ hoàn toàn sẽ là: 1. Thần cảnh trí chứng thông (神境智證通), cũng gọi là Thần cảnh thông (神境通), Thần túc thông (神足通), Thaân như ý thông (身如 意通), Như ý thông (如意通). 2. Thiên nhãn trí chứng thông (天眼智證通), cũng gọi là Thiên nhãn trí thông (天眼智通), Thiên nhãn thông (天眼通). 3. Thiên nhĩ trí chứng thông (天耳智證通), còn gọi Thiên nhĩ trí thông (天耳智通), Thiên nhĩ thông (天耳通). 4. Tha tâm trí chứng thông (他心智證通), hoặc Tha tâm trí thông (他心 智通), Tri tha tâm thông (知他心通), Tha tâm thông (他心通). 5. Túc trú tuỳ niệm trí chứng thông (宿住隨念智證通), cũng gọi là Túc trú trí thông (宿住智通), Thức túc mệnh thông (識宿命通), Túc mệnh thông (宿命通).
  • 55. 57 Đệ tử ông ấy, hỏi rằng: ‘Thưa ngài, vậy trong đời này ai có thiên nhãn chân thật?’ “Duy-ma-cật đáp: ‘Chỉ có Phật Thế Tôn được thiên nhãn chân thật mà thôi. Ngài thường trụ nơi Tam-muội, thấy hết các nước Phật, chẳng dùng hai tướng tạo tác và không tạo tác.’ “Lúc ấy, Phạm vương Nghiêm Tịnh với quyến thuộc của mình là năm trăm Phạm thiên đều phát tâm A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Các vị ấy đảnh lễ dưới chân Duy-ma-cật xong, bỗng nhiên biến mất. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Ưu-ba-ly:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Ưu-ba-ly bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, có hai tỳ-kheo phạm luật hạnh. Vì hổ thẹn, hai vị ấy chẳng dám hỏi Phật. Bèn đến hỏi con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Chúng tôi phạm luật, thật lấy làm hổ thẹn, nhưng chẳng dám hỏi Phật. Xin ngài cởi mở lòng nghi hối cho chúng tôi, để (1) Ưu-ba-ly (Upāli), dịch nghĩa là Cận thủ, Cận chấp. Một vị đại đệ tử của Phật, được Phật nhận là Trì luật đệ nhất trong các đệ tử của ngài.
  • 56. 58 Kinh Duy- ma-cật chúng tôi khỏi các tội lỗi.’ Con liền theo như pháp mà giải thuyết với hai vị ấy. “Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Xin đừng kết thêm tội cho hai tỳ-kheo ấy, nên trừ dứt ngay đi. Đừng làm rối lòng họ. Tại sao vậy? Tội tánh kia chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa. Như Phật có dạy: Tâm chẳng tịnh, cho nên chúng sinh chẳng tịnh. Tâm thanh tịnh, cho nên chúng sinh thanh tịnh. Tâm cũng chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa. Như tâm mình cháy bừng, tội dơ cũng cháy bừng, các pháp cũng cháy bừng, chẳng ra khỏi cảnh như như. ‘Thưa ngài Ưu-ba-ly! Như khi ngài dùng tâm tướng mà được giải thoát, há còn có sự dơ nhớp nữa chăng?’ “Con đáp: ‘Không.’ “Duy-ma-cật nói: ‘Tâm tướng không dơ nhớp của tất cả chúng sinh lại cũng như vậy.’ ‘Dạ, thưa ngài Ưu-ba-ly! Vọng tưởng là dơ, không vọng tưởng là sạch. Điên đảo là dơ, không điên đảo là sạch. Giữ lấy cái ta là dơ, chẳng giữ lấy cái ta là sạch. ‘Tất cả các pháp sinh diệt chẳng ngừng, chúng như ảo hóa, như lằn chớp. Các pháp chẳng chờ nhau, cho đến
  • 57. 59 Đệ tử trong một tư tưởng, cũng chẳng hề ngừng lại. Các pháp đều là vọng kiến, như chiêm bao, như nháng lửa, như mặt trăng dưới nước, như hình trong gương. Chúng nó do vọng tưởng mà sinh ra. Ai biết như vậy, gọi là người phụng trì giới luật. Ai biết như vậy, gọi là người hiểu rành.’ “Lúc ấy, hai vị tỳ-kheo nói rằng: ‘Trí cao thượng thay! Ngài Ưu-ba-ly đây chẳng bì kịp. Người giữ luật bậc nhất(1) mà chẳng thuyết diễn được!’ “Con liền đáp rằng: ‘Trừ ra đức Như Lai, chưa có vị Thanh văn, Bồ Tát nào chế phục được trang biện tài lạc thuyết ấy! Trí huệ của ông sáng suốt như vậy đó.’ “Lúc ấy, hai vị tỳ-kheo liền dứt được nghi hối, phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Hai vị ấy phát nguyện rằng: ‘Cầu cho tất cả chúng sinh đều được biện tài như thế.’ “Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” (1) Người giữ luật bậc nhất (Trì luật chi thượng): tức là Ưu-ba-ly.
  • 58. 60 Kinh Duy- ma-cật Phật bảo La-hầu-la:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma- cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” La-hầu-la bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, một số chàng con nhà trưởng giả ở Tỳ-da-ly có đi lại chỗ con ngụ, đảnh lễ con và hỏi rằng: ‘Dạ, thưa ngài La-hầu-la! Ngài là con của Phật, đã bỏ ngôi Chuyển luân vương xuất gia học đạo. Việc xuất gia của ngài có những lợi ích gì?’ “Con liền y theo pháp, nói với những người ấy về lợi ích, công đức của việc xuất gia. “Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Dạ, thưa ngài La-hầu-la! Ngài chẳng nên nói những lợi ích công đức của việc xuất gia. Người ta có thể nói pháp hữu vi có lợi ích, có công đức, nhưng xuất gia là pháp vô vi. Trong pháp vô vi, không có lợi ích, không có công đức. ‘Thưa ngài La-hầu-la! Nếu xuất gia thì không có bên này, không có bên kia, cũng không có khoảng giữa. Lìa sáu mươi hai kiến giải,(2) trụ nơi Niết-bàn. Kẻ trí giả thọ (1) La-hầu-la (Sanskrit: Rāhula), dịch nghĩa: Phú chướng (che án, trói buộc), con trai của thái tử Tất-đạt-đa và công chúa Da-du-đà-la. Sau khi Phật thành đạo, La-hầu-la cũng xuất gia làm đệ tử Phật, đắc quả A-la-hán, được Phật nhận là Mật hạnh đệ nhất trong các đệ tử của ngài. (2) Sáu mươi hai kiến giải (Lục thập nhị kiến, 六十二見), gồm có: 1. Kể rằng sắc là ta
  • 59. 61 Đệ tử pháp ấy, bậc thánh nhân hành pháp ấy. Hàng phục các ma, vượt qua năm nẻo,(1) giữ sạch năm thứ mắt,(2) được năm sức, dựng năm căn, chẳng não loạn người khác, lìa các xấu xa lộn xộn, dẹp các ngoại đạo, vượt khỏi giả danh, ra khỏi bùn lầy, không tự buộc trói vướng mắc, không có cái gì của mình, không thọ lãnh vật gì, tâm mình chẳng rối loạn, vui theo ý người khác, tùy theo thiền định, lìa các chỗ sai lầm. Nếu được như vậy là xuất gia chân thật.’ 2. Kể rằng sắc lìa ta 3. Kể rằng sắc lớn ta nhỏ, ta lớn sắc nhỏ 4. Kể rằng ta lớn sắc lớn, ta nhỏ sắc nhỏ Đối với Thọ, Tưởng, Hành, Thức cũng có kiến giải như vậy. Tức là 5 x 4 = 20 kiến giải. Lại nhân cho ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai, thành: 20 x 3 = 60 kiến giải, thuộc về Ngã kiến. Lại hợp với Đoạn kiến và Thường kiến, thành 62 kiến giải. Đó là các kiến giải sai lầm của ngoại đạo. (1) Năm nẻo (Ngũ đạo): Địa ngục (地獄), Ngạ quỉ (餓鬼), Súc sinh (畜生), Nhân gian (人間), và Thiên thượng (天上). Cũng viết là Ngũ thú (五趣; Sanskrit: gati-pañcaka). (2) Năm thứ mắt (Ngũ nhãn五眼 Sanskrit: pañcacakṣuṃṣi) Bao gồm: 1. Nhục nhãn (肉眼; Sanskrit: māṃsacakṣus): mắt thịt, mắt thường của người phàm phu. 2. Thiên nhãn (天眼; Sanskrit: divyacakṣus): mắt của chư thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục ... 3. Pháp nhãn (法眼; Sanskrit: dharmacakṣus): mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu. 4. Huệ nhãn (慧眼; Sanskrit: prajñācakṣus): mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính không (Sanskrit: nyat) của các pháp. 5. Phật nhãn (佛眼; Sanskrit: buddhacakṣus): mắt của bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của mọi sự vật.
  • 60. 62 Kinh Duy- ma-cật “Lúc ấy, Duy-ma-cật nói với những người con nhà trưởng giả rằng: ‘Các ngươi nên cùng nhau xuất gia, ở trong Chánh pháp. Tại sao vậy? Vì rất khó gặp Phật ra đời.’ “Những người con nhà trưởng giả nói rằng: ‘Cư sĩ! Chúng tôi có nghe Phật dạy rằng: Cha mẹ chẳng cho phép, chẳng được xuất gia.’ “Duy-ma-cật nói: ‘Đúng vậy! Các ngươi nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Như vậy tức là xuất gia, như vậy tức là đầy đủ.’ “Lúc ấy, ba mươi hai người con nhà trưởng giả đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo A-nan:(1) “Ngươi hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” A-nan bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, thân Thế Tôn có chút bệnh cần dùng sữa bò. Con liền ôm bát, đến đứng ở cửa nhà một người bà-la-môn. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến hỏi con rằng: ‘Dạ, thưa ngài A-nan! Tại sao sáng sớm ngài đã ôm bát đứng đó?’ (1) A-nan hay A-nan-đà (Ānanda), dịch nghĩa: Hoan hỷ, Khánh hỷ. Là vị đại đệ tử thường hầu bên Phật, được Phật nhận là Đa văn đệ nhất trong các đệ tử xuất gia của Phật.
  • 61. 63 Đệ tử “Con đáp rằng: ‘Cư sĩ, thân Thế Tôn có chút bệnh, cần dùng sữa bò, cho nên tôi lại đây.’ “Duy-ma-cật nói: ‘Thôi, thôi, A-nan! Đừng thốt ra lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang, đã dứt hết mọi điều dữ, tụ hội mọi điều lành. Làm sao có bệnh? Làm sao có não? ‘Hãy im lặng mà đi, A-nan! Đừng bêu xấu Như Lai. Đừng cho kẻ lạ nghe lời thô thiển ấy. Đừng để chư thiên đại oai đức cùng chư Bồ Tát các cõi Tịnh độ phương khác đến đây nghe được lời ấy.’ ‘A-nan! Bậc Chuyển luân Thánh vương nhờ phước ít mà còn không có bệnh. Huống chi Như Lai, vô lượng phước hội, hơn khắp mọi người!’ ‘Đi đi, A-nan! Đừng để chúng tôi mang điều sỉ nhục ấy. Các thầy ngoại đạo nếu nghe được lời ấy, họ sẽ nghĩ rằng: Như vậy sao đáng gọi là thầy? Bệnh mình chẳng cứu chữa được, há cứu chữa được bệnh người khác sao? Ông nên mau lui bước cho kín nhẹm, đừng để người ta nghe biết.’ ‘A-nan nên biết, thân của các vị Như Lai là pháp thân, chẳng phải là thân do ái dục sinh. Phật được thế gian tôn trọng, hơn hết chúng sinh trong ba cõi. Thân Phật không có phiền não, các phiền não đã dứt hết. Thân Phật là vô vi, chẳng bị khép vào số mệnh. Cái thân như vậy, há có bệnh tật gì?’
  • 62. 64 Kinh Duy- ma-cật “Thế Tôn! Lúc ấy, con thật mang lòng hổ thẹn, chẳng lẽ được gần Phật mà nghe lầm sao? Con liền nghe có tiếng phát ra từ không trung rằng: ‘A-nan! Đúng như lời cư sĩ, chẳng qua là Phật ra đời nơi thế giới xấu xa có năm điều ô trược, nên ngài thị hiện thi hành pháp ấy để độ thoát chúng sinh. A-nan, đi đi! Hãy nhận lãnh sữa, đừng thẹn.’ “Thế Tôn! Trí huệ biện tài của Duy-ma-cật là như vậy đó. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy.” Cứ như vậy, lần lượt năm trăm đại đệ tử,(1) mỗi vị đều nói ra duyên cớ trước đây của mình, xưng thuật lời lẽ của Duy-ma-cật. Thảy đều biết rằng mình chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh. (1) Năm trăm đại đệ tử: Ở đoạn đầu phẩm thứ nhất có nói: Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây am-la, với đại chúng tỳ-kheo là tám ngàn người. Trong tám ngàn vị ấy, có năm trăm đại đệ tử cao trổi hơn hết, thảy đều tự nhận mình thua kém cư sĩ Duy-ma-cật, chẳng dám đến thăm hỏi bệnh của ông. Ngay cả các vị Xá-lỵ-phất cho đến A-nan là mười đại đệ tử có tài đức và trí huệ sáng suốt nhất của Phật, mỗi vị có một sở trường bậc nhất, thế mà thảy đều tự nhận mình thua kém cư sĩ Duy-ma-cật.
  • 63. 65
  • 64. 66 Phẩm Thứ Tư BỒ TÁT Lúc ấy, Phật bảo Bồ Tát Di-lặc:(1) “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.” Bồ Tát Di-lặc bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con vì vị Thiên vương ở cung trời Đâu-suất cùng quyến thuộc của người mà giảng thuyết công hạnh của địa vị Bất thối chuyển. Bấy giờ, Duy-ma-cật đến bảo con rằng: ‘Thưa Bồ Tát Di-lặc! Đức Thế Tôn có thọ ký cho nhân giả: Một đời nữa, ngài sẽ đắc quả A-nậu-đa-la (1) Bồ Tát Di-lặc (Sanskrit: Maitreya, Pāli : Metteyya) dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), cũng có tên khác là Vô Năng Thắng (無能勝, Sanskrit, Pāli: Ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa.
  • 65. 67 Bồ Tát Tam-miệu Tam-bồ-đề. Do đời sống nào mà được sự thọ ký ấy? Đời quá khứ chăng? Đời vị lai chăng? Đời hiện tại chăng? Nếu là đời quá khứ, thì đời quá khứ đã dứt. Nếu là đời vị lai, thì đời vị lai chưa tới. Nếu là đời hiện tại, thì đời hiện tại không trụ. Như Phật có dạy: Tỳ-kheo! Ngay lúc này đây các ngươi vừa sinh ra, vừa già đi, vừa diệt mất. Nếu do vô sinh mà được thọ ký, thì vô sinh tức là chánh vị. Đối với chánh vị, không có việc thọ ký, cũng không có việc đắc A-nậu- đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Làm sao Di-lặc được thọ ký một đời sinh ra nữa? Là theo như sinh mà được thọ ký chăng? Là theo như diệt mà được thọ ký chăng? Nếu là theo như sinh mà được thọ ký thì như không có sinh. Nếu là theo như diệt mà được thọ ký thì như không có diệt. Tất cả chúng sinh đều là như. Tất cả các pháp cũng là như. Các vị thánh hiền cũng là như. Cho đến Di-lặc cũng là như. Nếu Di-lặc được thọ ký, tất cả chúng sinh lẽ ra cũng được thọ ký. Tại sao vậy? Nếu là như, thì chẳng hai, chẳng khác. Nếu Di-lặc đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề,(1) (1) Khi một vị Bồ Tát giác ngộ viên mãn, thành Phật, gọi là đắc quả A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. Đây là cách phiên âm từ tiếng Phạn anuttarā-saṃyak-saṃbodhi, Hán dịch nghĩa là Vô thượng chánh đẳng chánh giác (無上正等正覺), mô tả sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật.
  • 66. 68 Kinh Duy- ma-cật tất cả chúng sinh lẽ ra cũng đều đắc quả. Tại sao vậy? Tất cả chúng sinh tức là tướng Bồ-đề. Nếu Di- lặc được diệt độ, tất cả chúng sinh cũng sẽ được diệt độ. Tại sao vậy? Chư Phật biết rằng tất cả chúng sinh tất cánh tịch diệt, tức là tướng Niết-bàn, chẳng còn sự diệt độ nào nữa. Vì vậy, ngài đừng đem pháp ấy mà khuyến dụ chư thiên tử.(1) Thật không có việc phát tâm A-nậu-đa- la Tam-miệu Tam-bồ-đề, cũng không có việc thối chuyển. ‘Di-lặc! Ngài nên khiến chư thiên tử ấy lìa bỏ cái ý kiến phân biệt Bồ-đề. Tại sao vậy? Bồ-đề ấy, không thể dùng thân mà được, không thể dùng tâm mà được. ‘Tịch diệt là Bồ-đề, vì dứt hết các tướng. Chẳng quán sát là Bồ-đề, vì lìa khỏi các duyên. Chẳng hành động là Bồ-đề, vì không nhớ tưởng chi cả. Đoạn tuyệt là Bồ-đề, vì bỏ hết các ý kiến. Lìa bỏ là Bồ-đề, vì lìa khỏi các vọng tưởng. Ngăn trở là Bồ-đề, vì ngăn trở các sở nguyện. Chẳng vào là Bồ-đề, vì không có tham (1) Thiên tử (Sanskrit: Devatā), dịch âm là Đề-bà, chỉ những vị thuộc nam giới cư trú ở cõi trời, dưới quyền vị thiên vương hay thiên chủ. Còn những vị thuộc nữ giới gọi là thiên nữ.
  • 67. 69 Bồ Tát trước. Thuận là Bồ-đề, vì thuận theo lẽ như. Trụ là Bồ-đề, vì trụ nơi tánh pháp. Đến là Bồ-đề, vì đến chỗ thực tế. Chẳng hai là Bồ-đề, vì lìa ý và pháp. Bình đẳng là Bồ-đề, vì bình đẳng như hư không. Vô vi là Bồ-đề, vì không có những sự: sinh, trụ, diệt. Biết là Bồ-đề, vì rõ được tâm hạnh của chúng sinh. Chẳng hội là Bồ-đề, vì các nhập chẳng hội nhau. Chẳng hiệp là Bồ-đề, vì lìa khỏi thói quen phiền não. Chẳng có xứ sở là Bồ-đề, vì không có hình sắc. Tiếng tạm gọi là Bồ-đề, vì danh tự vốn không. Như ảo hóa là Bồ-đề, vì không lấy, không bỏ. Không loạn là Bồ-đề, vì tự mình yên tĩnh. Thường tịch là Bồ-đề, vì tánh thanh tịnh. Không nắm giữ là Bồ-đề, vì lìa khỏi phan duyên. Không khác lạ là Bồ-đề, vì các pháp như nhau. Không thể so sánh là Bồ-đề, vì không thể ví dụ. Vi diệu là Bồ-đề, vì các pháp khó biết.’ “Thế Tôn! Duy-ma-cật thuyết thời pháp ấy xong, hai trăm vị thiên tử được pháp nhẫn Vô sinh. Vậy nên con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến thăm bệnh ông ấy.” Phật bảo Đồng tử Quang Nghiêm: “Ông hãy đến nhà Duy-ma-cật mà thăm hỏi bệnh ông ấy.
  • 68. 70 Kinh Duy- ma-cật Quang Nghiêm bạch Phật rằng: “Thế Tôn! Con chẳng đủ sức đảm nhận việc đến đó thăm bệnh ông ấy. Nguyên do là thế này. Con còn nhớ lúc trước, con đi ra ngoài thành lớn Tỳ-da-ly. Bấy giờ, Duy-ma-cật mới vừa đi vào thành. Con liền làm lễ ông ấy và hỏi rằng: ‘Cư sĩ từ đâu lại đây?’ “Cư sĩ đáp: ‘Tôi từ đạo trường lại đây.’ “Con hỏi: ‘Đạo trường ấy là ở đâu?’ “Cư sĩ đáp rằng: ‘Lòng ngay thẳng là đạo trường, vì không có sự hư dối. Khởi làm là đạo trường, vì có thể biện biệt được sự việc. Lòng sâu vững là đạo trường, vì được tăng thêm công đức. Tâm Bồ-đề là đạo trường, vì không có sự lẫn lộn. Bố thí là đạo trường, vì không mong báo đáp. Trì giới là đạo trường, vì được tròn nguyện. Nhẫn nhục là đạo trường, vì đối với chúng sinh, lòng mình được vô ngại. Tinh tấn là đạo trường, vì chẳng có biếng nhác. Thiền định là đạo trường, vì lòng dạ được điều nhu. Trí huệ là đạo trường, vì hiện rõ các pháp. Từ là đạo trường, vì thương các chúng sinh như nhau. Bi là đạo trường, vì nhẫn chịu các mỏi mệt khổ đau. Hỷ là đạo trường, vì là pháp vui vẻ. Xả là đạo trường, vì dứt lòng thương ghét.
  • 69. 71 Bồ Tát Thần thông là đạo trường, vì thành tựu sáu thần thông. Giải thoát là đạo trường, vì buông bỏ được. Phương tiện là đạo trường, vì giáo hóa chúng sinh. Bốn pháp thâu nhiếp là đạo trường, vì nhiếp phục được chúng sinh. Đa văn là đạo trường, vì theo như điều đã nghe mà thực hành. Điều phục tâm là đạo trường, vì đó là chánh quán các pháp. Ba mươi bảy phẩm là đạo trường, vì buông bỏ pháp hữu vi. Bốn đế là đạo trường, vì chẳng dối gạt thế gian. Duyên khởi là đạo trường, vì vô minh cho tới già, chết(1) đều (1) Vô minh cho đến già, chết (Vô minh nãi chí lão tử): Mười hai nhân duyên (Sanskrit: pratītya-samutpāda, Pāli: paṭicca-samuppāda) hay Thập nhị nhân duyên (十二因緣), nguyên nghĩa là Duyên khởi (緣起) hay Nhân duyên sinh (因緣生), nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai yếu tố kết nối nhau, nên thường gọi là Mười hai nhân duyên. Đó là: 1. Vô minh (無明, Sanskrit: avidyā, Pāli: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu được khổ là tính chất căn bản của đời sống, 2. Vô minh sinh ra Hành (行, Sanskrit: saṃskāra, Pāli: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng là thân, khẩu và ý. 3. Hành sinh ra Thức (識, Sanskrit: vijñāna, Pāli: viññāṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bào thai mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ do Hành tốt hay xấu qui định. 4. Thức sinh ra Danh sắc (名色, Sanskrit, Pāli: nāmarūpa), là toàn bộ phần tâm lí và hình thể của bào thai mới, do Ngũ uẩn (Sanskrit: pañcaskandha, Pāli: pañca-khandha) tạo thành. 5. Danh sắc sinh ra Lục căn (六根, Sanskrit: ṣaḍāyatana, Pāli: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu).

Related Documents