1 Phần Giới thiệu1.1 Giới thiệu chung về Báo cáoBối cảnh ra đờiViệt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng ấn tượn...
gia chỉ đạo về mặt chuyên môn của nhóm cộng sự nghiên cứu của ông tại Học viện Chiến lượcvà NLCT, Đại học Harvard trong qu...
cung cấp một cái nhìn toàn diện và tổng thể bao quát nhiều lĩnh vực chính sách, và nó kết hợpgiữa phân tích với các khuyến...
Determinants of Competitiveness l y ...
tạo ra. Các số liệu đánh giá bao gồm thu nhập bình quân đầu người, bất bình đẳng, phát triển giữa các vùng, và các t...
Productivity Purchasing Equality ...
dân thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Phần này cũng bóc tách các kết quả kinh tế củaViệt Nam ra thành các cấu phầ...
Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2009 – 20101. Giới thiệu chung2. Kết quả Kinh tế của Việt NamChương 2 và 3 sẽ đánh gi...
Thu nhập bình quân của Việt Nam – tính bằng GDP bình quân đầu người theo giá so sánh – đã ttăn...
10% Trung Quốc Tăng GDP bq...
Việt Nam 9 ...
- Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc giảm nghèo, tuy nhiên nguy cơ ...
Rủi ro tái nghèo vẫn còn cao và chủ yếu rơi vào ba nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm những hộnghèo mà thu nhập dựa vào sản xuất ...
55 Bất bình đẳng nhiều 50 ...
HDI thì bên cạnh cải thiện GDP bình quân đầu người cần đồng thời cải thiện các chỉ số khác, đặcbiệt là các chỉ số về giáo ...
Hộp 2.1: Tình trạng ô nhiễm tại lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu và sông NhuệRiêng công nghiệp khai thác mỏ và khoáng chất ...
Tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia có thể được bóc tách thành ba bộ phận: tăng trưởngvề vốn vật chất, tăng trưởng về ...
2.1.2.2. Mức độ huy động lao độngMức độ huy động lao động được đo bằng tỷ lệ dân số tham gia vào quá trình sản xuất của nề...
75 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi từ 15-64, % 70 ...
Tại thời điểm tháng 4/2009, Việt Nam có 43,8 triệu người tham gia LLLĐ, tương đương với51,1% dân số. Như minh hoạ trong hì...
Hình 2.8: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở từng nhóm tuổi năm 2008 của Việt Nam ...
Hàn Quốc 1969-1988 3.2Malaixia 1977-1996 3.5Thái Lan 1976-1995 ...
Cũng cần lưu ý là những người làm việc được hưởng lương chính thức chỉ chiếm 23% tổng sốlao động làm việc ở Việt Nam (theo...
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
Nang luc canh tranh dn hien nay
of 182

Nang luc canh tranh dn hien nay

Published on: Mar 3, 2016
Source: www.slideshare.net


Transcripts - Nang luc canh tranh dn hien nay

  • 1. 1 Phần Giới thiệu1.1 Giới thiệu chung về Báo cáoBối cảnh ra đờiViệt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng ấn tượng nhất trên thế giới trong hai thậpkỷ qua. Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới vào cuối thập kỷ 80, GDP bình quân đầu người củaViệt Nam đã tăng trung bình mỗi năm gần 6% và giúp đưa hàng triệu người thoát nghèo. Cuộckhủng hoảng tài chính châu Á và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây không ảnh hưởng quánhiều tới Việt Nam như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Cộng đồng các nhà tài trợ coi Việt yNam như một trong những câu chuyện thành công về hiệu quả của những nỗ lực hỗ trợ phát triển lquốc tế. Các nhà đầu tư cũng nhìn nhận Việt Nam như một điểm đến ngày càng hấp dẫn. nMặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn còn nhiều việc phải làm phía trước. Mức thunhập của Việt Nam còn thấp, ngay cả so với các nước châu Á láng giềng. Bất ổn định kinh tế vĩmô là dấu hiệu nhắc nhở rằng những thành quả tăng trưởng rất mong manh trước các cú sốc. ONghèo đói vẫn tồn tại ở một số vùng tăng trưởng chậm và một bộ phận dân số, và ngày càng khóxoá nếu chỉ thông qua các biện pháp kích thích tăng trưởng kinh tế chung chung. Những thành ttựu đã đạt được cho tới nay càng làm tăng kỳ vọng và tham vọng, buộc Việt Nam phải tìm cách ftiếp tục duy trì đà tăng trưởng bền vững sau khi đã đạt tới trình độ phát triển hiện nay. Trênnhiều khía cạnh, Việt Nam hiện nay đang phải đối mặt với những lựa chọn chính sách phức tạp ahơn nhiều so với thời kỳ quyết định mở cửa nền kinh tế hai thập kỷ trước. rTrong những tháng tới, Việt Nam sẽ đứng trước một loạt các mốc quan trọng tác động tới tươnglai trong trung hạn của đất nước. Một trong những cột mốc đó là việc công bố Chiến lược phát Dtriển kinh tế xã hội 10 năm của quốc gia mà hiện nay dự thảo Chiến lược đang được thảo luậntrong Đảng, Chính phủ và Quốc hội. Chiến lược này đặt ra những trụ cột chính sách quan trọngmà Chính phủ muốn tập trung đẩy mạnh cũng như đề ra một tầm nhìn tổng quát để Việt Namhướng tới trong thập kỷ tới. Đại hội Đảng toàn quốc vào đầu năm 2011 cũng sẽ đặt ra nhữngđịnh hướng quan trọng cho tương lai phát triển của đất nước.Trong bối cảnh đó, ý tưởng về một nghiên cứu sâu về năng lực cạnh tranh (NLCT) của Việt Nambắt nguồn từ cuộc gặp giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Giáo sư Michael E.Porter của Đạihọc Harvard tại Hà Nội vào cuối năm 2008. Giáo sư Porter rất ấn tượng với những thành tựu tolớn trong tăng trưởng và giảm nghèo mà Việt Nam đạt được trong hai thập kỷ qua. Nhưng ôngcũng chỉ ra vị trí khiêm tốn của Việt Nam trên nhiều xếp hạng quốc tế về NLCT là một vấn đềđáng quan ngại. Sau đó, đã có những thảo luận tiếp theo về việc xây dựng Báo cáo Năng lựcCạnh tranh Việt Nam. Năm 2009, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải đề nghị Viện Quản lý Kinhtế Trung ương (CIEM) và Học viện Năng lực Cạnh tranh Châu Á của Singapore (ACI) phối hợpxây dựng Báo cáo NLCT Quốc gia đầu tiên của Việt Nam. Giáo sư Michael E.Porter tham giavào dự án này với vai trò là Chủ tịch Hội đồng Tư vấn Quốc tế của ACI và thông qua sự tham 1
  • 2. gia chỉ đạo về mặt chuyên môn của nhóm cộng sự nghiên cứu của ông tại Học viện Chiến lượcvà NLCT, Đại học Harvard trong quá trình xây dựng báo cáo.Mục tiêu của Báo cáoBáo cáo Năng lực Cạnh tranh Việt Nam nhằm mục tiêu cung cấp đầu vào cho quá trình ra quyếtđịnh và lựa chọn chính sách của các nhà lãnh đạo Việt nam trên ba khía cạnh:  Một bộ dữ liệu về các kết quả kinh tế, hoạt động của nền kinh tế cũng như các yếu tố nền tảng của NLCT Việt Nam;  Một khung phân tích nhằm phân tích các số liệu và mối liên hệ tương quan giữa các yếu y tố của NLCT; l  Những đề xuất cụ thể về các ưu tiên chính sách và các bước thực hiện chi tiết nMỗi khía cạnh nói trên đều có tầm quan trọng riêng. Nhiều, nếu không nói là tất cả, các vấn đềchính sách của Việt Nam hiện nay không thể giải quyết chỉ bằng lý thuyết chung chung, mà đòihỏi phải đi sâu phân tích Việt Nam hiện đang đứng ở vị trí nào. Do đó, việc cung cấp cho các Onhà hoạch định chính sách số liệu để đưa ra được các chính sách dựa trên luận cứ khoa học và tkhách quan là vô cùng quan trọng. fNLCT có rất nhiều khía cạnh và cấu phần, vì thế nếu chỉ dựa vào số liệu thì khó có thể chuyểncác phân tích thành những gợi ý chính sách cụ thể. Một khung phân tích dựa trên nghiên cứu akhoa học nhưng không bị chi phối bởi các yếu tố tư tưởng ý thức hệ là một công cụ quan trọng rgiúp các nhà hoạch định chính sách xử lý được những vấn đề phức tạp.Kết quả quan trọng cuối cùng chính là các quyết định chính sách. Các quyết định này cần phải do Dnhững cơ quan, tổ chức có liên quan của Việt Nam đưa ra, dựa trên điều kiện và hoàn cảnh cụthể của Việt Nam. Báo cáo này giúp phục vụ cho quá trình ra quyết định chinh sách thông quaviệc đề xuất các khuyến nghị hành động để các nhà hoạch định chính sách tham khảo và vậndụng.Không phải tất cả các khuyến nghị trong báo cáo này đều được mọi người đồng ý và tiếp nhận.Nhưng chúng tôi hy vọng các phân tích của chúng tôi sẽ nhận được sự chia sẻ và đồng tình củanhiều người và các số liệu và phân tích sẽ làm cơ sở phục vụ cho các thảo luận chính sách hiệnnay ở Việt Nam.Vai trò của Báo cáo NLCT Việt Nam so với các báo cáo và nghiên cứu khácBáo cáo NLCT Việt Nam kế thừa và bổ sung, chứ không thay thế, các báo cáo nghiên cứu khác.Báo cáo này cũng có một số điểm khác biệt với các báo cáo, nghiên cứu đã có. Mục tiêu của báocáo vừa rộng hơn nhưng đồng thời cũng tập trung hơn. Mục tiêu của báo cáo rộng hơn ở chỗ nó 2
  • 3. cung cấp một cái nhìn toàn diện và tổng thể bao quát nhiều lĩnh vực chính sách, và nó kết hợpgiữa phân tích với các khuyến nghị hành động cụ thể. Đồng thời, báo cáo cũng tập trung và cótrọng tâm hơn trong việc xác định những lĩnh vực chính sách nào là quan trọng nhất với ViệtNam và do đó đề xuất một kế hoạch hành động với thứ tự ưu tiên rõ ràng.Báo cáo này có so sánh Việt Nam với các nền kinh tế khác trên nhiều chỉ tiêu. Nhưng Báo cáokhông tập trung vào xếp hạng Việt Nam về tổng thể so với các quốc gia khác, do đã có nhiều xếphạng và chỉ số toàn cầu thực hiện việc này. Thay vào đó, Báo cáo đi sâu vào phân tích cácnguyên nhân gốc rễ đằng sau những kết quả thực hiện hay các xếp hạng của Việt Nam, dựa trênviệc phân tích các yếu tố nền tảng của NLCT. Báo cáo cung cấp một cái nhìn tổng thể về nềnkinh tế Việt Nam ở cấp quốc gia; việc đánh giá NLCT ở cấp độ ngành hoặc địa phương nằm yngoài phạm vi của Báo cáo năm nay nhưng sẽ được giải quyết trong các báo cáo tiếp theo trong ltương lai.Báo cáo NLCT Việt nam là một nguồn cung cấp các đầu vào chính sách nhằm bổ sung và cụ thể nhoá những định hướng và mục tiêu tổng quát đã được đề ra trong các văn kiện chính sách quantrọng như Chiến lược 10 năm, Kế hoạch 5 năm hay Văn kiện Đại hội Đảng, v.v. OVà cuối cùng, nhóm tác giả của Báo cáo là sự kết hợp đặc biệt giữa CIEM và ACI và báo cáođược thực hiện hoàn toàn độc lập, không chịu ảnh hưởng của bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Sự kết thợp giữa một đối tác Việt Nam và một đối tác quốc tế đã tạo ra sự giao thoa giữa sự hiểu biết sâu fvề tình hình của Việt Nam với các kinh nghiệm quốc tế.1.2 Phương pháp luận r a DCác phân tích của Báo cáo dựa trên khung phân tích NLCT mà Giáo sư Michael E. Porter đãphát triển trong vòng hai thập kỷ qua. Khung phân tích này rất linh hoạt trong việc mô tả vai tròcủa các yếu tố khác nhau của NLCT. Khung phân tích vừa ghi nhận sự tương tác giữa các yếu tố,đồng thời không áp đặt một giả định nào về việc yếu tố nào có vai trò quan trọng hơn.Yếu tố trung tâm cốt lõi của khung phân tích NLCT là khái niệm năng suất – được định nghĩa làkhả năng tạo ra các hàng hoá và dịch vụ có giá trị thông qua việc sử dụng các nguồn lực conngười, vốn và nguồn lực tự nhiên của một quốc gia – và năng suất là động lực cốt lõi dẫn dắt sựthịnh vượng bền vững. Năng suất phụ thuộc cả vào giá trị của hàng hoá và dịch vụ được sản xuấtra cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất. NLCT cao, do đó, được phản ánh qua mức năngsuất cao. 3
  • 4. Determinants of Competitiveness l y n O Source: Professor Michael E. Porter and Dr. Christian H.M. Ketels 42 f tNăng suất là kết quả của một tập hợp các nhân tố được hình thành dưới tác động của nhữngthành viên tham gia trong nền kinh tế. Một số nhân tố được nhóm vào NLCT vĩ mô, nhóm nhân atố này xác định môi trường hay bối cảnh chung mà trong đó các công ty hoạt động. Các nhân tố rnày bao gồm chất lượng của hạ tầng xã hội và thể chế chính trị cũng như các chính sách kinh tếvĩ mô. Nhóm nhân tố này không tác động trực tiếp lên năng suất nhưng tạo ra cơ hội cho các yếutố thúc đẩy năng suất được phát huy. DMột nhóm nhân tố khác, được gọi là NLCT vi mô, mô tả cách thức các công ty hoạt động và cácyếu tố bên ngoài có tác động trực tiếp lên kết quả hoạt động của các công ty. Nhóm nhân tố nàybao gồm sự tinh thông của doanh nghiệp, trình độ phát triển các cụm ngành và chất lượng củamôi trường kinh doanh. Tất cả các yếu tố này có tác động trực tiếp lên năng suất.Các lợi thế tự nhiên là một nhóm nhân tố nữa cần xem xét. Chúng không tác động lên năngsuất, nhưng có thể hỗ trợ trực tiếp cho việc tạo ra sự thịnh vượng. Các nhân tố này cũng tạo ramột môi trường tổng thể mà trong đó một nền kinh tế và vị thế tương đối của nó so với các nềnkinh tế khác được xác định.Phân tích NLCT trong báo cáo này sử dụng nhiều bộ số liệu. Các số liệu được tổ chức thành banhóm chính nhằm đánh giá và định vị NLCT Việt Nam từ các lăng kính khác nhau:  Nhóm thứ nhất nhằm đánh giá kết quả kinh tế mà quốc gia đạt được, bao gồm phân tích mức sống mà người dân Việt Nam đang được hưởng do hệ quả của các nền tảng NLCT 4
  • 5. tạo ra. Các số liệu đánh giá bao gồm thu nhập bình quân đầu người, bất bình đẳng, phát triển giữa các vùng, và các thước đo khác. Nhóm này cũng xem xét các yếu tố góp phần tạo ra tăng trưởng và thịnh vượng như năng suất lao động, mức độ huy động lao động. Các vấn đề như chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đặc điểm dân số cũng được thảo luận trong phần này.  Nhóm chỉ tiêu thứ hai đánh giá các chỉ tiêu trung gian của hoạt động kinh tế. Các yếu tố trong nhóm chỉ tiêu này là dấu hiệu, đồng thời là nhân tố đóng góp vào NLCT nhưng không phải là mục tiêu cuối cùng mà các chính sách cần hướng tới. Những nhân tố như vậy gồm đầu tư trong nước và nước ngoài, thương mại quốc tế, đổi mới sáng tạo và năng lực kinh doanh. y  Nhóm chỉ tiêu thứ ba đánh giá điểm mạnh và yếu của Việt Nam về một loạt các yếu tố l nền tảng vĩ mô và vi mô của NLCT, những yếu tố quyết định nên các kết quả kinh tế được thảo luận trong các phần trước. Các chỉ tiêu này bao gồm từ đánh giá chất lượng n điều hành, cung cấp các dịch vụ công, sự bền vững tài khoá cho tới sự tinh thông của doanh nghiệp, sự năng động của các cụm ngành, chất lượng của hạ tầng cơ sở hay mức O độ cạnh tranh trong nước, v.v.Sự kết hợp cả ba nhóm chỉ tiêu này sẽ cung cấp những thông tin đánh giá tổng hợp và toàn diện tcho các nhà hoạch định chính sách thay vì họ chỉ dựa vào những đánh giá trong một lĩnh vực hẹp fhay từ một lăng kính hẹp. Các chỉ tiêu kết quả kinh tế phản ánh những mục tiêu cuối cùng của achính sách, thất bại trong việc thực hiện các chỉ tiêu này phản ánh thất bại trong toàn bộ cáckhâu. Việc bóc tách các chỉ tiêu này thành các chỉ tiêu bộ phận giúp gợi ý nhiều vấn đề chính rsách quan trọng. Các chỉ tiêu về hoạt động kinh tế giúp hiểu sâu hơn làm thế nào để các yếu tốcấu thành NLCT được chuyển thành các kết quả kinh tế cuối cùng. Nhìn vào các chỉ tiêu này Dgiúp gợi ý định hướng chính sách cần tập trung vào đâu. Cuối cùng là các chỉ tiêu nền tảng củaNLCT nhằm đánh giá những nguyên nhân gốc rễ của các kết quả đạt được ở các lớp chỉ tiêu bênngoài. Đây chính là những lĩnh vực cần có sự can thiệp chính sách, và cần hướng vào những lĩnhvực mà các chỉ tiêu kết quả kinh tế chỉ ra là quan trọng, chứ không chỉ dựa vào những lĩnh vựcmà theo cảm nhận là trong lĩnh vực đó quốc gia còn có nhiều yếu kém. 5
  • 6. Productivity Purchasing Equality Power Quality of Life Economic Performance Labor utilization Entrepreneurship Patenting Economic Activity Investment FDI flows Exports/Imports l y Knowledge Competitiveness Corruption Economy WB n Governance WEF Global Executive Opinion WB Doing Business WB Logistical Survey Performance Index O 15 Copyright 2009 © Dr. Christian H. M. Ketels, Professor Michael E. Porter f tBáo cáo NLCT Việt Nam khai thác rất nhiều nguồn số liệu khác nhau. Nhiều đánh giá và các cơsở dữ liệu quốc tế được sử dụng; hình trên chỉ ra một vài nguồn số liệu được sử dụng trong báo acáo. Nhiều cơ quan tổ chức của Việt Nam và quốc tế đã cho phép chúng tôi được tiếp cận các rphân tích và báo cáo; và chúng tôi rất biết ơn sự hỗ trợ và chia sẻ thông tin quý báu này. Thôngqua CIEM, nhóm tác giả cũng được tiếp cận một số lượng lớn các số liệu thống kê của các cơ Dquan Chính phủ Việt Nam.Trong năm vừa qua, CIEM và ACI đã tổ chức một loạt các cuộc phỏng vấn và hội thảo lấy ýkiến về dự thảo báo cáo. Những cuộc gặp này được tổ chức với các cơ quan và cán bộ của Chínhphủ Việt Nam, các nhà lãnh đạo doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài, các chuyên gia nghiêncứu và đại diện của các tổ chức tài trợ quốc tế. Một Ban tư vấn bao gồm các chuyên gia có uy tínđã cung cấp thường xuyên các góp ý và đóng góp cho báo cáo. Vào tháng 6 năm 2010, dự thảobáo cáo đã được thảo luậnt tại Hội nghị bên lề của Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á tại Tp.Hồ Chí Minh với sự tham gia của hơn 300 đại biểu. Chúng tôi xin cám ơn tất cả các đối tác về sựcởi mở và chia sẻ ý kiến với chúng tôi trong suốt quá trình xây dựng báo cáo.Phần còn lại của Báo cáo được chia thành ba chương:Chương 2 xem xét các kết quả kinh tế dưới giác độ là các chỉ tiêu biểu hiện NLCT. Chương nàytrước hết mô tả các khía cạnh khác nhau của sự thịnh vượng. Trong khi GDP bình quân đầungười là một thước đo quan trọng, phần này cũng mở rộng phạm vi phân tích để đánh giá liệuGDP bình quân đầu người có phải là một thước đo toàn diện về chất lượng cuộc sống của người 6
  • 7. dân thuộc các tầng lớp khác nhau trong xã hội. Phần này cũng bóc tách các kết quả kinh tế củaViệt Nam ra thành các cấu phần là năng suất lao động và mức độ huy động lao động. Tác độngcủa chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế là trọng tâm phân tích trong phần này. Phần hai củaChương này xem xét các chỉ tiêu về hoạt động kinh tế với tư cách vừa là dấu hiệu vừa là nhân tốđóng góp vào NLCT, những chỉ tiêu này thường sẽ chỉ báo cho các kết quả kinh tế đạt đượctrong tương lai. Đây là những công cụ phân tích quan trọng nhưng không phải là mục tiêu cuốicùng của các chính sách. Nếu nhắm tới các chỉ tiêu này một cách trực tiếp, như nhiều quốc gia đãlàm, thường sẽ giúp nâng các kết quả thực hiện chỉ tiêu đó, nhưng không giúp cải thiện sự thịnhvượng cũng như NLCT. Các chỉ tiêu kết quả kinh tế được đề cập gồm có đầu tư (trong nước vàFDI), hội nhập toàn cầu (FDI, xuất khẩu, nhập khẩu), đổi mới sáng tạo và năng lực kinh doanh.Một số phát hiện lớn từ việc phân tích các chỉ tiêu kết quả được tóm tắt ở cuối mỗi phần. l yChương 3 đánh giá các nền tảng NLCT đã giúp tạo ra những kết quả kinh tế nói trên. Phần đầucủa chương đánh giá tóm tắt về các lợi thế tự nhiên của Việt Nam như vị trí địa lý, tài nguyên nthiên nhiên và các nhân tố khác. Phần thứ hai xem xét các yếu tố chính của NLCT vĩ mô, như hạtầng xã hội và thể chế chính trị và chất lượng của chính sách vĩ mô. Về hạ tầng xã hội, các yếu tốnhư nền tảng nhân lực cơ bản, tính pháp quyền, và hiệu quả của hệ thống chính trị là những chỉ Otiêu chính được xem xét. Về chính sách kinh tế vĩ mô, báo cáo chủ yếu xem xét các chính sáchtài khoá và tiền tệ cũng như các cân đối bên trong và bên ngoài. Phần thứ ba đánh giá các khía tcạnh của NLCT vi mô, như sự tinh thông của doanh nghiệp, sự năng động của cụm ngành, và fchất lượng môi trường kinh doanh. Mô hình Kim cương, một khái niệm được Giáo sư MichaelPorter đưa ra vào năm 1990, được sử dụng để phân tích môi trường kinh doanh theo bốn nhóm ayếu tố chính, đó là các yếu tố đầu vào sản xuất, bối cảnh cho chiến lược và cạnh tranh, các yếu tố rđiều kiện cầu và các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan. Những phát hiện chính từ phântích các nền tảng của NLCT cũng được tóm tắt ở cuối mỗi phần. DChương 4 là phần đề xuất các khuyến nghị dựa trên kết quả phân tích. Phần đầu của chương tổnghợp các phát hiện chính từ hai chương trước nhằm xác định ba nhóm nhiệm vụ chính Việt Namcần thực hiện. Phần thứ hai vạch ra một chương trình hành động để giải quyết các nhiệm vụ này.Phần này đề ra một số các nguyên tắc chung cần được áp dụng xuyên suốt trong toàn bộ quátrình xây dựng chính sách ở Việt Nam. Sau đó, các khuyến nghị cụ thể được đưa ra cho mỗi lĩnhvực chính sách ưu tiên đã xác định. Phần thứ ba và cũng là phần cuối của chương đề xuất cácvấn đề cụ thể về triển khai thực hiện, một lĩnh vực mà có lẽ nhiều báo cáo trước đây chưa chú ýđúng mức. Phần này đề xuất việc xác định thứ tự ưu tiên các bước thực hiện theo thời gian, nhằmtạo động lực thay đổi dựa trên các thành công và kinh nghiệm bước đầu. Phần này cũng đề xuấtviệc thành lập một cơ quan chủ trì toàn bộ quá trình nâng cao NLCT là Hội đồng Năng lực Cạnhtranh Quốc gia – một khuyến nghị mang tính điểm nhấn và cốt lõi trong toàn bộ các khuyến nghịcủa báo cáo. 7
  • 8. Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2009 – 20101. Giới thiệu chung2. Kết quả Kinh tế của Việt NamChương 2 và 3 sẽ đánh giá NLCT Việt Nam toàn diện trên ba cấp độ, từ các kết quả kinh tế đạtđược, các chỉ tiêu kinh tế trung gian, cho tới những nguyên nhân gốc rễ của NLCT. Việc hiểuđược cặn kẽ cả ba nhóm chỉ tiêu này là rất quan trọng để xây dựng được một chiến lược kinh tếquốc gia và các gói giải pháp chính sách đồng bộ. Chương 2 tập trung vào hai lớp chỉ tiêu ngoài ycùng của NLCT. Phần một của chương tập trung vào nhóm chỉ tiêu đo lường các kết quả kinh tế lvà chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam. Phần hai tập trung vào các chỉ tiêu kinh tếtrung gian như thương mại và đầu tư. Nhóm các yếu tố cốt lõi, hay nền tảng gốc rễ của NLCT, sẽ nđược đánh giá trong Chương 3. O 2.1. Các kết quả kinh tế tNâng cao mức sống, hay mức độ thịnh vượng, là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế. Trên fthực tế, nhiều bản kế hoạch kinh tế, kể cả chiến lược mười năm của Việt Nam đang được thảoluận gần đây, cũng đặt ra các chỉ tiêu về mức sống làm mục tiêu chính sách. Việc so sánh các aquốc gia dựa trên những chỉ tiêu này, như ở phần dưới đây, giúp đánh giá một cách tương đối rmức độ cạnh tranh của nền kinh tế.Tuy nhiên, cho dù mức sống là một chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá kết quả, nó không phải là một Dcông cụ hữu dụng giúp đưa ra các chỉ dẫn về định hướng chính sách. Chỉ tiêu này chỉ mô tả tácđộng gộp của tất cả các yếu tố NLCT đến mức sống của người dân. Tuy nhiên, cũng có thể tìmra những gợi ý chính sách ban đầu từ việc đánh giá các thước đo thu nhập và phi thu nhập của sựthịnh vượng, từ việc bóc tách các yếu tố thành phần tạo nên mức sống ví dụ như mức độ huyđộng nguồn lực (lao động chẳng hạn) và việc các nguồn lực này được sử dụng hiệu quả ra sao đểgóp phần nâng cao mức sống. 2.1.1. Mức sống2.1.1.1. Chỉ tiêu thu nhập: GDP bình quân đầu người- GDP bình quân đầu người tăng nhanh và vững chắc trong hai thập kỷ qua, tuy vậy vẫn ở mứcthấp về mặt tuyệt đối 1
  • 9. Thu nhập bình quân của Việt Nam – tính bằng GDP bình quân đầu người theo giá so sánh – đã ttăng với tốc độ bình quân hàng năm là 5,06% thời kỳ 1986 – 1997 (trước khi x ra khủng hoảng n c xảytài chính châu Á) và 5,64% th kỳ 1997 – 2009 (Hình 2.1). Việt Nam nổi lên là m trong thời i mộtnhững nền kinh tế tăng trưởng nhanh nh trên thế giới trong giai đoạn này, giúp đưa quốc gia ng nhất n quvươn lên gia nhập nhóm nước thu nhập trung bình thấp lần đầu tiên vào năm 2008 với mức thu c nhnhập bình quân đầu người lần vư ngưỡng 1000 đôla Mỹ (USD). Kể từ năm 2008 t nay, Việt n vượt tớiNam vẫn tiếp tục giữ được đà tăng trư c trưởng vững, kể cả trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu nh tgần đây. Hình 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Việt Nam (1984 - 2009) ng t (19 l y n $3,000 GDP bình quân đầu người điều chỉnh theo PPP, CAGR: CAGR: +5.64% +5.06% O $2,500 t $2,000 giá đôla cố định 2005 f 1986: $1,500 Đổi Mới a Khủng $1,000 r hoảng tài 1997: chính Khủng toàn cầu $500 hoảng châu D Á $0 1984 1985 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 Nguồn: World Development Indicators. trưởng GDP bình quân đầu người 1990 - 2009 Hình 2.2: So sánh tăng trư i, 2
  • 10. 10% Trung Quốc Tăng GDP bq đầu người (CAGR), 1990 - 2009 9% 8% 7% 6% Campuchia Việt Nam 5% Ấn Độ 4% Malaixia Thái Lan Inđônêxia 3% l y 2% Philippin 1% n 0% 0 2 4 6 8 10 12 14 16 O GDP bình quân đầu người 2009 (ngàn $, giá hiện hành PPP) t Chú thích: GDP bình quân đầu người (CAGR) của Campuchia tính cho 1993 - 2009. Nguồn: World Development Indicators. Bảng 2.1: So sánh thu nhập bình quân đầu người năm 2009 a f rNước USD PPP$ Xếp hạng Xếp hạng theo thế giới trong nhóm ($ giá hiện hành) D ($PPP)Xingapo 1 4 36,537 50,705Nhật Bản 2 20 39,727 32,443Hàn Quốc 3 26 17,078 27,168Malaixia 4 49 6,975 13,982Thái Lan 5 80 3,894 8,004Trung Quốc 6 83 3,744 6,838Inđônêxia 7 106 2,349 4,205Philippin 8 110 1,745 3,546 3
  • 11. Việt Nam 9 113 1,052 2,957Lào 10 125 940 2,259Campuchia 677 1,913 11 131Nguồn: World Development IndicatorsMặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế trong hai thập kỷ qua rất ấn tượng, GDP bình quân đầu ngườicủa Việt Nam (tính theo ngang giá sức mua) vẫn còn thấp so với các quốc gia khác. Năm 2009,Việt Nam xếp thứ 113 trên thế giới và vẫn nằm trong tốp những nước nghèo nhất của khu vựcĐông Á (Bảng 2.1). Mức thu nhập của Việt Nam cũng còn kém xa so với những quốc gia “con yhổ” châu Á truyền thống như Hàn Quốc. Ngay cả Trung Quốc cũng có mức thu nhập cao hơn lViệt Nam gấp hơn hai lần (Bảng 2.1 và Hình 2.3). n Hình 2.3: Các tốc độ bắt kịp khác nhau về phát triển kinh tế: Việt Nam so với các nước Đông Á 10% 9% t O f 8% a 7% % so với thu nhập của Hoa Kỳ (%) Hàn r 6% Quốc In-đô-nê- 5% xi-a D Thái Lan 4% Malaixia 3% Philippin 2% 1% 0% 1980 1982 1984 1986 1988 1990 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004 2006 2008 Nguồn: World Development Indicators; Tính toán của ACI2.1.1.2. Các chỉ tiêu ngoài thu nhậpGiảm nghèo 4
  • 12. - Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc giảm nghèo, tuy nhiên nguy cơ tái nghèo còn cao ở một số nhóm dân số dễ bị tổn thươngViệt Nam đã được thế giới ghi nhận là một trong số ít các quốc gia đã hoàn thành sớm Mục tiêuthiên niên kỷ về xoá đói giảm nghèo. Tỷ lệ nghèo giảm nhanh từ 58,1% năm 1993 xuống còn14,5% năm 2008 (Theo Điều tra mức sống hộ dân cư, VHLSS 2006)1. Tỷ lệ nghèo đã giảmmạnh ở cả thành thị và nông thôn như trong Hình 2.4. Năm 2009, mặc dù tăng trưởng chậm lạinhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn tiếp tục giảm, ước tính còn 11% theo chuẩn nghèo của Chính phủ2.Tuy vậy, “những kết quả giảm nghèo đã đạt được là chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo còn cao” nhưThủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ ra trong bài viết nhân dịp đầu năm mới 2010 (Trung tâm yBáo chí 2010). l Hình 2.4: Tình hình giảm nghèo giai đoạn 1998-2006 n O 50 45 t 40 f 35 Tỷ lệ nghèo (%) Chung 30 a 25 Thành r thị 20 Nông 15 thôn D 10 5 0 1998 2002 2004 2006 2008 Nguồn: VHLSS, Tổng cục Thống kê.1 Tỷ lệ nghèo căn cứ vào mức do Tổng cục Thống kê (TCTK) và Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra với mức chi tiêubình quân đầu người hàng tháng là 216.000 VND.2 Chuẩn nghèo của Chính phủ cho giai đoạn 2006-2010 là chi tiêu bình quân đầu người 200.000 VND ở nông thônvà 220 nghìn VND ở thành thị. 5
  • 13. Rủi ro tái nghèo vẫn còn cao và chủ yếu rơi vào ba nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm những hộnghèo mà thu nhập dựa vào sản xuất nông nghiệp thuần túy, sống ở vùng ven biển, Đồng bằngsông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long. Đây là những vùng không chỉ hay phải đối mặt vớithiên tai, lũ lụt, dịch bệnh, mà đang phải đối mặt với tình trạng giảm đất nông nghiệp do quátrình đô thị hóa. Nhóm thứ hai là nhóm người nghèo, trong đó đa số là người dân tộc thiểu số,sống ở vùng núi phía Bắc, Tây Nguyên, hải đảo, những nơi khó tiếp cận nguồn lực để sản xuấtcũng như tiếp cận các dịch vụ xã hội. Nhóm thứ ba bao gồm dân nghèo thành thị. Đó là nhữngngười có trình độ học vấn và chuyên môn thấp, người lao động di cư từ nông thôn hoặc nông dânmất đất do đô thị hóa. Sự chênh lệch về thu nhập giữa các vùng chứng tỏ chính sách tăng trưởngthông qua tạo nhiều việc làm có giá trị gia tăng thấp tuy có tác động giảm nghèo, nhưng khó thu yhẹp được khoảng cách thu nhập giữa vùng nghèo với vùng giàu. Vì vậy, cần đặt mục tiêu tăng lnăng suất lao động (NSLĐ) ngay cả trong nhóm dân số nghèo và vùng nghèo để tăng thu nhậpmột cách bền vững. nBất bình đẳng về thu nhập O - Về tổng thể, bất bình đẳng gia tăng cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn ở t mức thấp so với các nước trong nhóm nước so sánh fỞ Việt Nam, bất bình đẳng về thu nhập gia tăng cùng tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mức độ bấtbình đẳng thu nhập của Việt Nam vẫn còn tương đối thấp so với các nước trong khu vực như aTrung Quốc, Thái Lan, Philippin, Malaixia và Campuchia (Hình 2.5). r Hình 2.5: Hệ số Gini và GDP bình quân đầu người theo PPP, USD D 6
  • 14. 55 Bất bình đẳng nhiều 50 Malaysia GINI Index, 1992 - 2007 Trung Quốc 45 Philippines Campuchia Thái Lan 40 Bất bình đẳng ít y Lào Việt Nam 35 l Indonesia n 30 0.00 2.00 4.00 6.00 8.00 10.00 12.00 14.00 16.00 O GDP bình quân đầu người 2007 (ngàn USD) Chú ý: Chỉ số Gini tính từ 0 (bình đẳng tuyệt đối) tới 100 (bất bình đẳng tuyệt đối). Chỉ số GINI trong giai đoạn gần t nhất từ 1992-2007. Nguồn: Báo cáo Phát triển Con người 2009, UNDP.Chất lượng sống a f rKhái niệm “chất lượng sống” hiểu theo nghĩa rộng là một thước đo quan trọng trong đánh giáNLCT của một quốc gia. Chỉ số phát triển con người (HDI) là một thước đo chất lượng sống. DNgoài ra, chất lượng môi trường, đặc điểm dân số, chất lượng và tiếp cận các dịch vụ y tế, giáodục, các chỉ tố về bình đẳng giới, v.v. cũng là những chỉ số thể hiện chất lượng sống.Chỉ số phát triển con người (HDI) - Xếp hạng về HDI ở vị trí trung bình thấp, điểm số tuyệt đối về các chỉ số HDI thấp hơn so với hầu hết các nước trong khu vựcChỉ số HDI được cấu thành bởi một loạt các chỉ số thành phần chia thành ba nhóm: thu nhập, sứckhoẻ và giáo dục. Việt Nam đạt điểm khá cao về nhóm chỉ số sức khoẻ, ví dụ chỉ số tuổi thọ bìnhquân, so với các nước châu Á khác (Bảng 2.2). Tuy nhiên, Việt Nam cần cải thiện các chỉ số vềgiáo dục là nhóm chỉ số mà Việt Nam vẫn đứng sau nhiều nước châu Á. Ví dụ, số năm đi họctrung bình là 5,5 và số năm đi học dự kiến là 10,4 (cải thiện được 4,9 năm) đối với Việt Nam, trong khinhững con số này tương ứng là 5,7 và 12,7 (cải thiện được 7 năm) đối với Inđônêxia. Để cải thiện chỉ số 7
  • 15. HDI thì bên cạnh cải thiện GDP bình quân đầu người cần đồng thời cải thiện các chỉ số khác, đặcbiệt là các chỉ số về giáo dục. Bảng 2.2: Chỉ số phát triển con người và các chỉ số thành phần - Việt Nam so với một số nước châu Á, 2010 Tổng thu nhập Xếp hạng Điểm số Số năm đi Số năm đi quốc dân GNI bình Xếp Chỉ số Tuổi thọ Đ học trung học dự (GNI) bình quân đầu hạng phát triển bình quân H bình kiến quân đầu người trừ đi HDI con người (năm) th (năm) (năm) người (PPP xếp hạng (HDI) 2008 $) HDI y Hàn Quốc 12 0.877 79.8 11.6 16.8 29,518 16 l Xingapo 27 0.846 80.7 8.8 14.4 48,893 –19 Malaixia 57 0.744 74.7 9.5 12.5 13,927 –3 n Trung Quốc 89 0.663 73.5 7.5 11.4 7,258 –4 Xri-lan-ca 91 0.658 74.4 8.2 12 4,886 10 Thái Lan 92 0.654 69.3 6.6 13.5 8,001 –11 O Philippin 97 0.638 72.3 8.7 11.5 4,002 12 Inđônêxia 108 0.6 71.5 5.7 12.7 3,957 2 t Việt Nam 113 0.572 74.9 5.5 10.4 2,995 7 f Ấn độ 119 0.519 64.4 4.4 10.3 3,337 –6 Lào 122 0.497 65.9 4.6 9.2 2,321 3 a Campuchia 124 0.494 62.2 5.8 9.8 1,868 12 r Bănglađet 129 0.469 66.9 4.8 8.1 1,587 12 Nguồn: Liên Hợp Quốc, 2010 DChất lượng môi trường - Chất lượng môi trường xuống cấp do ô nhiễm công nghiệpTừ năm 1998-2007, lượng khí thải CO2 từ tiêu thụ năng lượng tăng trung bình 9,6% hàng năm(theo Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc). Ô nhiễm không khí chủ yếu do ngành côngnghiệp, giao thông và các ngành dân dụng gây ra.Tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt tại những trung tâm côngnghiệp lớn, khu công nghiệp tại lưu vực các sông Đồng Nai, sông Cầu và sông Nhuệ. Tác nhângây ô nhiễm chính là sản xuất công nghiệp (chế biến kể cả thủ công, làng nghề), tốc độ đô thịhóa nhanh đi kèm với mật độ xây dựng cao3.3 Trung tâm công nghiệp lưu vực sông Cầu gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương và VĩnhPhúc. 8
  • 16. Hộp 2.1: Tình trạng ô nhiễm tại lưu vực sông Đồng Nai, sông Cầu và sông NhuệRiêng công nghiệp khai thác mỏ và khoáng chất ở lưu vực sông Cầu đã chiếm 55% chất thảicông nghiệp, sản xuất kim loại chiếm 25%, giấy 7% và thực phẩm 4 %. Ở lưu vực sông Nhuệ(trong đó có Hà Nội), 56% nước thải gây ô nhiễm là nước sinh hoạt, 24% là nước thải côngnghiệp và 4% là nước thải làng nghề. Ở lưu vực sông Đồng Nai (trong đó có TP HCM, ĐồngNai, Bình Dương), cứ mỗi ngày có 480 nghìn mét khối nước thải công nghiệp xả ra môi trườngnước, trong đó 24,6% là từ khu công nghiệp, khu chế xuất. yNguồn: Ngân hàng Thế giới, 2006.2.1.2. Các yếu tố tạo nên sự thịnh vượng n l OViệc bóc tách yếu tố cấu thành nên sự thịnh vượng nhằm giúp làm rõ nguồn gốc của tăng trưởngkinh tế, trong đó bao gồm việc huy động các yếu tố của sản xuất và năng suất. Vì những yếu tố tcấu thành nên GDP bình quân đầu người liên quan tới các lĩnh vực chính sách khác nhau, việcbóc tách này giúp làm rõ những khía cạnh nào của NLCT cần được phân tích kỹ hơn.2.1.2.1 Các yếu tố tạo ra tăng trưởng a f r - Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)4 – một thước đo quan trọng về hiệu quả sử dụng vốn và lao động – có xu hướng giảm mạnh kể từ năm 2000, trong khi đó vốn vật chất trở D thành nguồn lực chính tạo ra tăng trưởng4 Trong kinh tế học, nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) là một biến số đo lường phần tăng trưởng đầu ra được tạo rabởi các yếu tố đầu vào không phải là yếu tố truyền thống như vốn hay lao động. TFP bao gồm nhiều yếu tố nhưngchủ yếu là tiến bộ công nghệ. 9
  • 17. Tốc độ tăng trưởng GDP của một quốc gia có thể được bóc tách thành ba bộ phận: tăng trưởngvề vốn vật chất, tăng trưởng về lao động, và tăng trưởng về TFP. Trong thời kỳ 1990-2000, 34%tăng trưởng GDP của Việt Nam là do đóng góp của tăng trưởng vốn vật chất, 22% là do tăngtrưởng lao động và 44% là do tăng trưởng TFP. Tuy nhiên, trong thời kỳ 2000-2008, đóng gópcủa vốn vật chất đã tăng lên tới 53%, trong khi phần đóng góp của TFP giảm xuống còn 26%(Bảng 2.3). Nếu so với các nước ASEAN khác như Inđônêxia, Malaixia, Thái Lan và Philippin,đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế ở các nước này đều tăng mạnh trong thời kỳ 2000-2008. Hơn thế nữa, ở Trung Quốc, hơn 50% tăng trưởng kinh tế trong cả thời kỳ 1990-2008 là doTFP đóng góp. Rõ ràng là Việt Nam đã phụ thuộc quá nhiều vào vốn vật chất để tăng trưởng, vàhàm ý rằng năng suất biên của vốn ở Việt Nam là thấp và đặt ra câu hỏi về sự bền vững của cáchthức tăng trưởng hiện nay. l y Bảng 2.3: Các yếu tố tạo ra tăng trưởng GDP, 1990-2008 n Nước Giai đoạn 1990-2000 Giai đoạn 2000-2008 Các yếu tố tạo ra tăng Các yếu tố tạo ra tăng O Tăng trưởng trưởng Tăng trưởng trưởng GDP Vốn Lao động TFP GDP Vốn Lao động TFP t Đóng góp tính theo điểm phần trăm hàng năm (ppa)Việt Nam 7.3 2.5 1.6 3.2 7.3 3.9 1.4 1.9 fTrungQuốc 9.9 3.6 0.7 5.5 9.7 4.1 0.6 5 aẤn Độ 5.3 2.1 1.2 2 7.3 3.1 1.6 2.7 rCampuchia 7.3 2.8 2.5 2 9 4.2 3.5 1.3Inđônêxia 4.1 2.5 1.1 0.5 5.1 1.4 1.1 2.5Malaixia 6.9 3.7 2.1 1.1 5.4 1.6 1.1 2.7 DPhilippin 3 1.3 1.4 0.3 4.7 1 1.9 1.8Thái Lan 4.4 2.7 0.3 1.4 4.7 0.8 1.4 2.5 Tỷ trọng đóng gópViệt Nam 100% 34% 22% 44% 100% 53% 19% 26%TrungQuốc 100% 36% 7% 56% 100% 42% 6% 52%Ấn Độ 100% 40% 23% 38% 100% 42% 22% 37%Campuchia 100% 38% 34% 27% 100% 47% 39% 14%Inđônêxia 100% 61% 27% 12% 100% 27% 22% 49%Malaixia 100% 54% 30% 16% 100% 30% 20% 50%Philippin 100% 43% 47% 10% 100% 21% 40% 38%Thái Lan 100% 61% 7% 32% 100% 17% 30% 53%Nguồn: Số liệu của WDI; tính toán của ACI. 10
  • 18. 2.1.2.2. Mức độ huy động lao độngMức độ huy động lao động được đo bằng tỷ lệ dân số tham gia vào quá trình sản xuất của nềnkinh tế. Tỷ lệ trung bình này chịu tác động của hai yếu tố khác nhau. Thứ nhất, cơ cấu nhân khẩucủa xã hội quyết định tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động. Sự thay đổi về tỷ lệ giữa nhóm dân sốtham gia lao động và nhóm không tham gia lao động sẽ có tác động đáng kể đến tốc độ tăngtrưởng qua thời gian. Thứ hai, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cũng phụ thuộc vào hiệu quảcủa thị trường lao động từ giác độ tạo cơ hội việc làm cho người lao động.Xu hướng nhân khẩu học y- Cơ cấu dân số trẻ với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động cao là một lợi thế lớn, nhưng đã xuất lhiện những dấu hiệu ban đầu của già hoá dân số và mật độ dân số cao cũng là một thách thức nViệt Nam có quy mô dân số lớn và cơ cấu dân số trẻ, với 90% dân số nằm trong hoặc dưới độtuổi lao động. Vào cuối năm 2009, dân số Việt Nam ước đạt 86,06 triệu người, với 29,6% là dânsố thành thị và 70,4% là dân số nông thôn5. Việt Nam hiện là nước đông dân thứ 3 tại Đông Nam OÁ và thứ 13 trên thế giới. tSo với năm 1999, tỷ trọng dân số dưới độ tuổi lao động (0 - 14 tuổi) giảm từ 34,3% xuống còn f26,5% trong năm 2009 (theo số liệu của UN Population Database). Trong khi đó, tỷ trọng dân sốcủa nhóm trong độ tuổi lao động (15 - 64) tuổi tăng từ 60,18% lên 67,18% trong thập kỷ vừa aqua. Còn nhóm dân số từ 64 tuổi trở lên tăng nhẹ từ 5,51% lên 6,30% trong giai đoạn 1999 - r2009. Như vậy, Việt Nam đang trong thời kỳ “cơ cấu dân số vàng”, thời kỳ mà nhóm dân sốtrong độ tuổi lao động cao gần gấp đôi nhóm dân số trong độ tuổi phụ thuộc. Thời kỳ này chỉ Ddiễn ra một lần trong một thế hệ và thường chỉ kéo dài trong vòng 15-30 năm, hoặc 40 năm, tùythuộc vào việc kiềm chế mức sinh, vì vậy, trong thời kỳ này, Việt Nam cần tận dụng cơ hội để cócác chính sách tạo nên một lực lượng lao động (LLLĐ) vàng, có chất lượng, đưa đất nước pháttriển. Hình 2.6: Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam5 Kết quả điều tra dân số sơ bộ năm 2009 (Tổng cục Thống kê) 11
  • 19. 75 Tỷ lệ dân số trong độ tuổi từ 15-64, % 70 65 60 55 l y 50 Dự báo n 45 1950 1955 1960 1965 1970 1975 1980 1985 1990 1995 2000 2005 2010 2015 2020 2025 2030 O Nguồn: UN Population Database Revision 2008. f tTuy nhiên, bên cạnh đó đã xuấ hiện dấu hiệu của già hoá dân số. Theo thố kê, chỉ số già hóa ất ốngcủa dân số Việt Nam tăng 11% (t 24,5% lên 35,9%) sau 10 năm. Chỉ số già hóa c Việt Nam (từ của ahiện cao hơn mức trung bình của khu vực Đông Nam Á (khoảng 30%). Thông thường, các nước c c thư rtrên thế giới phải mất nhiều th kỷ mới chuyển từ giai đoạn cơ cấu dân số trẻ sang giai đoạn già u thập ốhóa dân số trong khi Việt Nam chỉ mất có 3 năm (từ 2005 sang 2008). Già hoá dân số sẽ đặt ra t snhững thách thức lớn đối với h thống an sinh xã hội của Việt Nam khi mà trình độ phát triển i hệ t Dkinh tế còn thấp.Việt Nam cũng là nước có mậ độ dân số thuộc loại cao nhất thế giới – mật đ trung bình năm ật t độ2007 là 254 người/km2 – cao g 1,86 lần mật độ của Trung Quốc (136 người/km2), gấp 10 lần gấp c ngưcác nước phát triển và 6 – 7 lầ mật độ trung bình của thế giới (30 – 40 ngư ần người/km2). Mật độ dânsố cao ảnh hưởng xấu đến chấ lượng môi trường sống, đặc biệt ở khu vực đô thị. Điều đó có ất c th ng nghiệp ợinghĩa là những ngành công nghi cần có diện tích rộng sẽ không còn là lợ thế cho tăng trưởngkinh tế của Việt Nam và Việt Nam đ t đứng trước thách thức phải sử dụng quỹ đất của mình một ỹcách hiệu quả hơn.Tỷ lệ tham gia lực lượng lao đ ng động- Tỷ lệ tham gia LLLĐ cao nhưng đang có xu hư hướng giảm đi do dân số trẻ có cơ hội đi học lâuhơn trước khi bước vào LLLĐ 12
  • 20. Tại thời điểm tháng 4/2009, Việt Nam có 43,8 triệu người tham gia LLLĐ, tương đương với51,1% dân số. Như minh hoạ trong hình 2.7, tỷ lệ tham gia lao động của dân số trong tuổi laođộng của Việt Nam giảm đi theo thời gian, chủ yếu là do tỷ lệ tham gia của nhóm tuổi 15 – 24giảm đi. Tuy năm 2008 tỷ lệ tham gia LLLĐ của dân số trong tuổi lao động giảm 2,5 điểm phầntrăm so với 10 năm trước, nhưng vẫn đạt 77,4%, tức là vẫn cao, ngang bằng nhiều nước thu nhậpcao như Nhật Bản, Đan Mạch v.v.Thực tế, tỷ lệ tham gia LLLĐ giảm đi là do tăng trưởng trong giai đoạn vừa qua đã góp phần cảithiện mức sống, tạo điều kiện cho dân số trẻ, nhất là ở khu vực nông thôn có được cơ hội họchành thay vì phải bước vào thị trường lao động sớm như trong thời kỳ trước. Tỷ lệ tham gia yLLLĐ ở nhóm 15-24 tuổi giảm mạnh và liên tục từ năm 1980 đến nay. l Hình 2.7: Thay đổi về tỷ lệ tham gia LLLĐ ở từng nhóm tuổi từ 1980-2008 100 n O Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (%) 95 90 t 85 f 15- 80 24 25- a 75 34 35- r 70 54 65 60 D 55 50 1980 1986 1990 1995 1997 2000 2005 2008 Nguồn: ILOCơ cấu tham gia LLLĐ ở từng nhóm tuổi của Việt Nam năm 2008 có nhiều điểm tương đồng vớiTrung Quốc, trong đó 92,8% dân số trong độ tuổi 25-34 tham gia LLLĐ. Nhóm nước thu nhậpcao có tỷ lệ tham gia LLLĐ ở nhóm tuổi 15-24 thấp hơn, nhất là Hàn quốc, đồng thời tỷ lệ thamgia của độ tuổi 55-64 và 65 tuổi trở lên lại cao. Kinh nghiệm của các nước ngụ ý rằng Việt Namcần tận dụng cơ cấu dân số vàng cho tăng trưởng trước khi bước vào thời kỳ già hóa dân số dựtính sẽ diễn ra sau khoảng hai thập kỷ nữa. 13
  • 21. Hình 2.8: Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở từng nhóm tuổi năm 2008 của Việt Nam so với một số nước Châu Á 100 90 80 Tỷ lệ tham gia (%) 70 60 50 40 30 l y 20 10 n 0 15-24 25-34 35-54 55-64 65+ Việt Nam Nhật Bản O Malaysia Trung Quốc Hàn Quốc Hong Kong t Nguồn: ILOTốc độ tăng việc làm a f r- Tăng trưởng việc làm chậm so với tăng GDP; tỷ lệ lao động tự trả lương hoặc làm việc trongkhu vực phi chính quy cao gợi ý rằng tỷ lệ thất nghiệp hoặc không toàn dụng lao động trên thực Dtế cao hơn các thống kê chính thứcCầu về lao động tăng thấp hơn so với mức tăng trưởng về thu nhập và xuất khẩu. So sánh với cácnước trong giai đoạn tăng trưởng nhanh của họ, Việt Nam có mức độ gia tăng việc làm thấp hơn.Tỷ lệ tham gia LLLĐ cao của Việt Nam (43,9% năm 1991) so với các nước trong nhóm nước sosánh như Bảng dưới đây (ví dụ tỷ lệ này của Hàn Quốc là 29,4% năm 1960 và của Malaixa là34,2% năm 1977) có thể là một trong những nguyên nhân giải thích cho tốc độ tăng việc làmchậm. Tuy nhiên, với trường hợp của Thái Lan, nước này bắt đầu giai đoạn tăng trưởng nhanhnăm 1976 với tỷ lệ tham gia LLLĐ khá cao (42,6%) nhưng vẫn đạt tốc độ tăng việc làm khoảng3% trong suốt hai thập kỷ. Bảng 2.4: Tăng trưởng việc làm – Việt Nam so với các nước châu Á khácQuốc gia Tốc độ tăng việc làm (%)Việt Nam 1991 – 2007 2.4 14
  • 22. Hàn Quốc 1969-1988 3.2Malaixia 1977-1996 3.5Thái Lan 1976-1995 3Đài Loan 1963-1982 3.4Inđônêxia 1977-1996 2.9Phi-lip-pin 1961- 1980 3.3Nguồn: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, "Nguyênnhân gốc rễ mang tính cơ cấu c bất ổn kinh tế vĩ mô", u củaT9/2008.Cơ cấu phẩn bổ đầu tư mất cân đ giữa các thành phần kinh tế cũng tạo nên tốc độ tạo việc làm t đối o tthấp. Hơn 37% tổng đầu tư xã h tập trung vào khu vực nhà nước thâm dụ vốn trong khi khu ã hội ụng yvực này chỉ tạo 34% GDP và t ra 10% số việc làm. Trong khi đó, khu vự kinh tế tư nhân tạo tạo ực lra nhiều việc làm nhất (hơn 87% tổng số việc làm) lại chỉ chiếm 28% tổng đ tư xã hội. Việc ng đầugiải quyết mất cân đối này cần đư coi là một phần của chính sách thúc đẩ tạo việc làm cho n được ẩy nnền kinh tế. O Hình 2.9: Cơ c lao động theo thành phần kinh tế, 2000 - 2009 cấu , t 100% f 90% a 80% r 70% Khu vực đầu tư Tỷ lệ lao động (%) 60% nước ngoài 90.1 89.4 87.8 87.8 87.4 87.2 87.0 50% D Khu vực ngoài nhà 40% nước 30% Khu vực nhà nước 20% 10% 9.3 9.5 9.5 9.1 9.0 9.1 9.6 0% 2000 2002 2005 2006 2007 2008 2009 Nguồn: Tổng cục Thống kêĐiều này đặt ra một thách thức lớn đối với Việt Nam trong việc tạo đủ công ăn vi làm trong việcnhững ngành phát triển năng đ n động để thu hút vào đó LLLĐ trẻ trong khi vẫ tránh được cái bẫy ẫncủa một nền công nghiệp năng su thấp và thâm dụng lao động. p suất 15
  • 23. Cũng cần lưu ý là những người làm việc được hưởng lương chính thức chỉ chiếm 23% tổng sốlao động làm việc ở Việt Nam (theo Báo cáo về xu hướng việc làm của ILO năm 2009). Số 77%còn lại là người làm việc tự trả lương và làm việc trong khu vực phi chính quy gồm các doanhnghiệp qui mô nhỏ chưa đăng ký kinh doanh và các hộ gia đình. Do đó, tỷ lệ thống kê thấtnghiệp chính thức có thể không tính đến đầy đủ mức thất nghiệp và không toàn dụng lao độngcủa những người lao động tự trả lương (bao gồm cả những lao động nông nghiệp) và nhữngngười làm việc trong khu vực phi chính quy.2.1.2.3. Năng suất lao độngTăng NSLĐ chính là cốt lõi để đảm bảo duy trì kết quả của thành tựu phát triển đạt được. NSLĐ y– định nghĩa ở đây là GDP bình quân người lao động – được đánh giá trên cả ba khía cạnh: l - Thứ nhất, NSLĐ tăng có thể là kết quả của lao động có tay nghề cao hơn hoặc vốn đầu n tư nhiều hơn, hoặc do yếu tố công nghệ, hiệu quả kỹ thuật thể hiện qua TFP hay sự kết hợp của tất cả các yếu tố này. O - Thứ hai, NSLĐ bình quân tăng có thể là kết quả của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm cho tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành có năng suất cao tăng lên, hoặc do tăng năng suất t nội bộ ngành nhờ đổi mới sáng tạo. - a f Thứ ba, NSLĐ tăng có thể là do kết quả chuyển dịch cơ cấu doanh nghiệp theo các khu vực trong nền kinh tế (giữa khu vực nước ngoài và trong nước, giữa khu vực tư nhân và r nhà nước) do mỗi khu vực có mức năng suất và tốc độ tăng năng suất khác nhau DNăng suất lao động tổng thể- Mặc dù tốc độ tăng NSLĐ tổng thể tương đối cao, mức năng suất tuyệt đối của Việt Nam vẫnthấp hơn nhiều so với hầu hết các nước trong khu vựcNSLĐ của Việt Nam đã tăng liên tục kể từ năm 1986 tới nay, với tốc độ tăng tương đối cao sovới các nước so sánh. Trong thời kỳ 1986 – 2009, NSLĐ của Việt Nam tăng trung bình 4,67% -cao hơn so với các nước trong khu vực ASEAN (tốc độ tăng trung bình của ASEAN là 3,73%)nhưng vẫn thấp hơn khá nhiều so với tốc độ của Trung Quốc (7,26%). Tuy nhiên, trong các phầnphân tích dưới đây sẽ làm rõ hơn liệu NSLĐ tăng cao chủ yếu là do sự chuyển dịch sang cácngành thâm dụng vốn hay do cải thiện về kỹ năng và công nghệ sản xuất.Về mặt tuyệt đối, Việt Nam vẫn là quốc gia có NSLĐ thấp trong khu vực Đông Nam Á. Ví dụnăm 2009, NSLĐ của Việt Nam chỉ tương đương 14,9% của Xingapo, 9% của Mỹ, 40% củaThái Lan và 52,6% của Trung Quốc. 16

Related Documents