KINH DUY MA CẬT
DAO TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU MA LA THẬP
PHỤNG CHIẾU DỊCH
Đoàn Trung Còn
Nguyễn Minh Tiến
Dịch và chú giải
...
ĐOÀN TRUNG CÒN
NGUYỄN MINH TIẾN
dịch và chú giải
KINH
DUY MA CẬT
NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
維摩詰所說經
【亦名不可思議解脫】
卷上
姚秦三 藏法師鳩摩羅什奉詔 譯
DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT KINH
(Diệc danh: Bất Khả Tư Nghị Giải Thoát Kinh)
QUYỂN THƯỢNG...
維摩詰所說經
【亦名: 不可思議解脫經】
姚秦三藏法師鳩摩羅什
奉詔譯
香讚
爐香乍熱
法界蒙熏
諸佛海會悉遙聞。
隨處結祥雲
誠意方殷
諸佛現全身。
南無香雲蓋菩薩摩訶薩。
〖三稱〗
淨口業真言
唵脩唎脩唎摩訶脩唎脩脩唎薩婆訶。
〖三稱〗...
DUY MA CẬT SỞ THUYẾT
KINH
Diệc danh
BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT KINH
DAO TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU MA LA THẬP
PHỤNG CHIẾU D...
維摩詰所說經
土地真言
南無三滿多没馱喃唵度嚕度嚕地尾娑婆訶。
〖三稱〗
普供養真言
唵誐誐曩三婆嚩伐日囉斛。
〖三稱〗
開經偈
無上甚深微妙法
百千萬刼難遭遇。
我今見聞得受持
願解如來真實義。
南無本師釋迦牟尼佛。
〖三稱〗
8
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Án thổ địa chân ngôn
Nam mô tam mãn đa, một đà nẩm. Án độ rô, độ rô, địa
vĩ, ta bà ha.
Phổ cún...
卷上
佛國品
第一
如是我聞。
一時佛在毘耶離菴羅樹園。與大比丘衆
八千人俱。菩薩三萬二千衆所知識。大智本
行皆悉成就。諸佛威神之所建立。為護法城
受持正法。能師子吼名聞十方。衆人不請友
而安之。紹隆三寶能使不絕。降伏魔怨制
諸外道。悉已清淨...
QUYỂN THƯỢNG
PHẬT QUỐC PHẨM
Đệ nhất
Như thị ngã văn:
Nhất thời, Phật tại Tỳ-da-ly, Am-la thọ viên, dữ đại tỳkheo chúng bá...
維摩詰所說經
習。演法無畏猶師子吼。其所講說乃如雷
震。無有量已過量。集衆法寶如海導師。
了達諸法深妙之義。善知衆生往來所趣及
心所行。近無等等佛自在慧十力無畏十八
不共。關閉一切諸惡趣門。而生五道以現
其身。為大醫王善療衆病。應病與藥令
得服...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
phục dư tập. Diễn pháp vô úy, du sư tử hống. Kỳ sở giảng
thuyết, nãi như lôi chấn. Vô hữu lượng,...
維摩詰所說經
息菩薩。妙生菩薩。華嚴菩薩。觀世音菩
薩。得大勢菩薩。梵網菩薩。寶杖菩薩。
無勝菩薩。嚴土菩薩。金髻菩薩。珠髻菩
薩。彌勒菩薩。文殊師利法王子菩薩。如
是等三萬二千人。
復有萬梵天王尸棄等。從餘四天下來
詣佛所而爲聽法。復有萬二千...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Tức Bồ Tát, Diệu Sinh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quán
Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phạm Võ...
維摩詰所說經
圍山。大海江河川流泉源。及日月星辰。
天宮龍宮。諸尊神宮。悉現於寶蓋中。又
十方諸佛諸佛說法亦現於寶蓋中。
爾時一切大衆。睹佛神力歎未曾有。合
掌禮佛瞻仰尊顏目不暫捨。於是長者子寶
積即於佛前以偈頌曰。
目淨脩廣如青蓮
心淨已度諸...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
đại hải giang hà, xuyên lưu tuyền nguyên, cập nhật nguyệt
tinh thần, thiên cung, long cung, chư ...
維摩詰所說經
以因緣故諸法生。 
無我無造無受者
善惡之業亦不亡 
始在佛樹力降魔
得甘露滅覺道成。
已無心意無受行
而悉摧伏諸外道 
三轉法輪於大千
其輪本來常清淨。 
天人得道此為證
三寶於是現世間 
以斯妙法濟群生
一受不退常寂然。 
度...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Dĩ nhân duyên cố chư pháp sinh.
Vô ngã, vô tạo, vô thọ giả,
Thiện ác chi nghiệp diệc bất vong.
T...
維摩詰所說經
諸天龍神所居宮
乾闥婆等及夜叉 
悉見世間諸所有
十力哀現是化變。 
衆睹希有皆歎佛
今我稽首三界尊 
大聖法王衆所歸
淨心觀佛靡不欣。 
各見世尊在其前
斯則神力不共法 
佛以一音演說法
衆生隨類各得解。 
皆謂世尊同其語
斯則...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Chư thiên, long, thần sở cư cung,
Càn-thát-bà đẳng cập dạ-xoa,
Tất kiến thế gian chư sở hữu.
Thậ...
維摩詰所說經
斯則神力不共法 
稽首十力大精進
稽首已得無所畏。 
稽首住於不共法
稽首一切大導師 
稽首能斷衆結縛
稽首已到於彼岸。 
稽首能度諸世間
稽首永離生死道 
悉知衆生來去相
善於諸法得解脫。 
不著世間如蓮華
常善入於空寂行 
達...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Tư tắc thần lực bất cộng pháp.
Khể thủ thập lực đại tinh tấn.
Khể thủ dĩ đắc vô sở úy.
Khể thủ t...
維摩詰所說經
於是寶積及五百長者子。受教而聽。
佛言。寶積。衆生之類是菩薩佛土。
所以者何。菩薩隨所化衆生而取佛土。隨
所調伏衆生而取佛土。隨諸衆生應以何國
入佛智慧而取佛土。隨諸衆生應以何國起
菩薩根而取佛土。所以者何。菩薩取於淨
國。皆為饒...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Ư thị, Bảo Tích cập ngũ bá trưởng giả tử thọ giáo nhi
thính.
Phật ngôn: Bảo Tích! Chúng sinh chi...
維摩詰所說經
其國。智慧是菩薩淨土。菩薩成佛時正定
衆生來生其國。四無量心是菩薩淨土。菩
薩成佛時成就慈悲喜捨衆生來生其國。四
攝法是菩薩淨土。菩薩成佛時解脫所攝衆
生來生其國。
方便是菩薩淨土。菩薩成佛時於一切法
方便無礙衆生來生其國。三十七...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
loạn chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Trí huệ thị Bồ Tát tịnh
độ, Bồ Tát thành Phật thời, chánh định...
維摩詰所說經
生。隨成就衆生則佛土淨。隨佛土淨則說
法淨。隨說法淨則智慧淨。隨智慧淨則其
心淨。隨其心淨則一切功德淨。
是故寶積。若菩薩欲得淨土當淨其心。
隨其心淨則佛土淨。
爾時舍利弗。承佛威神作是念。若菩薩
心淨則佛土淨者。我世尊本為菩薩時...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
tắc Phật độ tịnh. Tùy Phật độ tịnh, tắc thuyết pháp tịnh.
Tùy thuyết pháp tịnh, tắc trí huệ tịnh...
維摩詰所說經
舍利弗。菩薩於一切衆生悉皆平等。深
心清淨。依佛智慧。則能見此佛土清淨。
於是佛以足指按地。即時三千大千世界
若干百千珍寶嚴飾。譬如寶莊嚴佛無量功
德寶莊嚴土。一切大衆歎未曾有。而皆自
見坐寶蓮華。
佛告舍利弗。汝且觀是佛土嚴淨。...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Xá-lỵ-phất! Bồ Tát ư nhất thiết chúng sinh, tất giai
bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh, y Phật trí ...
KINH DUY-MA-CẬT1
Cũng gọi là
KINH GIẢI THOÁT KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Hương tán
Lò hương vừa đốt,
Cõi pháp nức xông,
Chư Phật ...
Kinh Duy-ma-cật
Phổ Cúng Dường Chân Ngôn:
Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hộc.
Khai Kinh Kệ
(Ba lần)
Pháp m...
QUYỂN THƯỢNG
Phẩm thứ nhất
CÕI PHẬT
T
ôi nghe như thế này: 1 Một thuở nọ, đức
Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn
c...
Cõi Phật
ngài có đầy đủ những đức: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí huệ và sức phương tiện. Các ngài...
Kinh Duy-ma-cật
dậy, không thể đong lường, quá số đong lường. Những điều
quý giá mà các ngài thâu góp được trong Chánh phá...
Cõi Phật
nghe biết đến các ngài, thảy đều được lợi ích. Những việc
mà các ngài làm đều mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Tấ...
Kinh Duy-ma-cật
Hống, Bồ Tát Lôi Âm, Bồ Tát Sơn Tướng Kích Âm, Bồ Tát
Hương Tượng, Bồ Tát Bạch Hương Tượng, Bồ Tát Thường
...
Cõi Phật
Lúc bấy giờ, trong thành Tỳ-da-ly có một chàng con
nhà trưởng giả, tên là Bảo Tích, cùng năm trăm chàng con
nhà t...
Kinh Duy-ma-cật
Mắt trong, dài, rộng như sen xanh,
Lòng sạch qua khỏi các thiền định,
Tịnh nghiệp chứa lâu, lường không xi...
Cõi Phật
Mà tồi phục hết các ngoại đạo.
Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên,1
Pháp ấy xưa nay thường trong sạch:
Trời, người đ...
Kinh Duy-ma-cật
Lòng hành bình đẳng như hư không,
Ai nghe Nhân bảo1 chẳng kính vâng?
Nay hiến Thế Tôn lọng báu này,
Cõi th...
Cõi Phật
Thảy thấy Thế Tôn trước mặt mình,
Thần lực của Ngài chẳng ai bằng.
Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng,
Chúng si...
Kinh Duy-ma-cật
Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng,
Kẻ nghe sợ sệt hoặc vui vẻ,
Hoặc sinh chán lìa, hoặc dứt nghi,
Như v...
Cõi Phật
trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tammiệu Tam-bồ-đề,1 nay muốn nghe việc được quốc độ thanh
tịnh c...
Kinh Duy-ma-cật
Bảo Tích! Nên biết rằng: Tâm ngay thẳng là cõi nước
thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những
ch...
Cõi Phật
ba mươi hai tướng tốt sinh về nước ấy. Tinh tấn là cõi nước
thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những c...
Kinh Duy-ma-cật
thoát khỏi chỗ nắm giữ sinh về nước ấy. Phương tiện là cõi
nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Ph...
Cõi Phật
3. Quán tâm vô thường (Tâm niệm xứ): Quán tâm là chú ý đến các
tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham ...
Kinh Duy-ma-cật
Năm sức,1 Bảy thánh giác,2 Tám chánh đạo3 sinh về nước
ấy. Tâm hồi hướng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát...
Cõi Phật
khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không có Ba ác, Tám
nạn.1 Tự mình giữ giới hạnh, chẳng chê kẻ khác lỗi lầm là
...
Kinh Duy-ma-cật
cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật,
cõi nước ấy không nghe đến chuyện phạm cấm. Mười đi...
Cõi Phật
thanh tịnh. Như vậy, phải chăng đức Thế Tôn của chúng
ta khi còn làm Bồ Tát tâm ý chẳng thanh tịnh nên cõi nước
c...
Kinh Duy-ma-cật
Lúc ấy, Phật dùng ngón chân mà nhấn xuống đất. Tức
thời, cõi thế giới tam thiên đại thiên này được nghiêm ...
Cõi Phật
trong hội đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồđề.
Phật lấy ngón chân thần lên, thế giới liền trở lại như
cũ. ...
方便品
第二
爾時毘耶離大城中有長者名維摩詰。已
曾供養無量諸佛深植善本。得無生忍。辯
才無礙。遊戲神通逮諸總持。獲無所畏。
降魔勞怨。入深法門。善於智度。通達方
便。大願成就。明了衆生心之所趣。又能
分別諸根利鈍。久於佛道心已純淑決定大
乘。...
PHƯƠNG TIỆN PHẨM
Đệ nhị
Nhĩ thời, Tỳ-da-ly đại thành trung, hữu trưởng giả,
danh Duy-ma-cật, dĩ tằng cúng dường vô lượng c...
維摩詰所說經
法。一切見敬為供養中最。執持正法攝諸
長幼。一切治生諧偶雖獲俗利不以喜悅。
遊諸四衢饒益衆生。入治政法救護一切。
入講論處導以大乘。入諸學堂誘開童蒙。
入諸婬舍示欲之過。入諸酒肆能立其志。
若在長者長者中尊為說勝法。若在居
士居士...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
minh thế điển, thường nhạo Phật pháp. Nhất thiết kiến
kính, vi cúng dường trung tối. Chấp trì Ch...
維摩詰所說經
諸仁者。是身無常無強無力無堅。速朽
之法不可信也。為苦為惱衆病所集。
諸仁者。如此身明智者所不怙。是身如
聚沫不可撮摩。是身如泡不得久立。是身
如燄從渴愛生。是身如芭蕉中無有堅。是
身如幻從顛倒起。是身如夢為虛妄見。是
身如影從業...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
Chư nhân giả! Thị thân vô thường, vô cường, vô lực, vô
kiên. Tốc hủ chi pháp, bất khả tín dã. Vi...
維摩詰所說經
定解脫三昧多聞智慧諸波羅密生。從方便
生。從六通生。從三明生。從三十七道品
生。從止觀生。從十力四無所畏十八不共
法生。從斷一切不善法集一切善法生。從
真實生。從不放逸生。從如是無量清淨法
生如來身。
諸仁者。欲得佛身斷一切衆生病...
Duy-ma-cật sở thuyết kinh
ba-la-mật sinh. Tùng phương tiện sinh. Tùng lục thông
sinh. Tùng tam minh sinh. Tùng tam thập th...
Phẩm thứ hai
PHƯƠNG TIỆN
L
úc ấy, trong thành lớn Tỳ-da-ly có một vị
trưởng giả tên là Duy-ma-cật. Ấy là người
đã từng ...
Phương tiện
khen ngợi, những đệ tử là Đế-thích và Phạm vương, chúa
cõi thế giới đều kính trọng ngài.
Vì muốn cứu độ chúng ...
Kinh Duy-ma-cật
dường làm trọng. Nắm giữ Chánh pháp, ngài nhiếp phục
được kẻ lớn người nhỏ. Trong mọi cuộc cộng tác làm ăn...
Phương tiện
nội quan,1 ngài được tôn trọng, bèn dạy bảo cho các cung nữ
trở nên chính trực. Nếu ở trong hàng dân dã, ngài ...
Kinh Duy-ma-cật
khao ái dục mà sinh ra. Thân này như cây chuối, bên trong
chẳng bền chắc gì. Thân này như món đồ ảo thuật,...
Phương tiện
“Các nhân giả! Thân này đáng lo, đáng chán, mà nên
ưa thích thân Phật. Tại sao vậy? Thân Phật tức là Pháp
thân...
Kinh Duy-ma-cật
ra; do ba minh3 mà sinh ra; do ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà
sinh ra; do chỉ quán mà sinh ra; do mười sức, b...
Phương tiện
“Các nhân giả! Muốn được thân Phật dứt hết các bệnh
của chúng sinh, nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu
Tam-bồ-đ...
弟子品
第三
爾時長者維摩詰自念。寢疾於牀。世尊
大慈寧不垂愍。
佛知其意。即告舍利弗。汝行詣維摩詰
問疾。
舍利弗白佛言。世尊。我不堪任詣彼
問疾。所以者何。憶念我昔曾於林中宴坐
樹下。時維摩詰來謂我言。唯舍利弗。不
必是坐為宴坐也。夫宴坐者...
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
Kinh duymacat doantrungcon
of 424

Kinh duymacat doantrungcon

Published on: Mar 3, 2016
Source: www.slideshare.net


Transcripts - Kinh duymacat doantrungcon

  • 1. KINH DUY MA CẬT DAO TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU MA LA THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH Đoàn Trung Còn Nguyễn Minh Tiến Dịch và chú giải Phát hành theo thỏa thuận giữa Công ty Văn hóa Hương Trang và tác giả. Nghiêm cấm mọi sự sao chép, trích dịch hoặc in lại mà không có sự cho phép bằng văn bản của chúng tôi. QĐXB số145-2005/CXB/145-94/TG In ấn và phát hành tại Nhà sách Quang Minh 416 Nguyễn Thị Minh Khai, P5, Q3, TP HCM Việt Nam Published by arrangement between Huong Trang Cultural Company Ltd. and the author. All rights reserved. No part of this book may be reproduced by any means without prior written permission from the publisher.
  • 2. ĐOÀN TRUNG CÒN NGUYỄN MINH TIẾN dịch và chú giải KINH DUY MA CẬT NHÀ XUẤT BẢN TÔN GIÁO
  • 3. 維摩詰所說經 【亦名不可思議解脫】 卷上 姚秦三 藏法師鳩摩羅什奉詔 譯 DUY-MA-CẬT SỞ THUYẾT KINH (Diệc danh: Bất Khả Tư Nghị Giải Thoát Kinh) QUYỂN THƯỢNG DAO TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU MA LA THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH 5
  • 4. 維摩詰所說經 【亦名: 不可思議解脫經】 姚秦三藏法師鳩摩羅什 奉詔譯 香讚 爐香乍熱 法界蒙熏 諸佛海會悉遙聞。 隨處結祥雲 誠意方殷 諸佛現全身。 南無香雲蓋菩薩摩訶薩。 〖三稱〗 淨口業真言 唵脩唎脩唎摩訶脩唎脩脩唎薩婆訶。 〖三稱〗 淨三業真言 唵娑嚩婆嚩秫馱娑嚩達麼娑嚩婆嚩秫度憾。 〖三稱〗 6
  • 5. DUY MA CẬT SỞ THUYẾT KINH Diệc danh BẤT KHẢ TƯ NGHỊ GIẢI THOÁT KINH DAO TẦN TAM TẠNG PHÁP SƯ CƯU MA LA THẬP PHỤNG CHIẾU DỊCH Hương tán Lư hương sạ nhiệt, Pháp giới mông huân, Chư Phật hải hội tất dao văn, Tùy xứ kiết tường vân, Thành ý phương ân, Chư Phật hiện toàn thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát ma-ha-tát! Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn (Tam xưng) Án, tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát bà ha. Tịnh tam nghiệp chân ngôn (Tam xưng) Án ta phạ bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. (Tam xưng) 7
  • 6. 維摩詰所說經 土地真言 南無三滿多没馱喃唵度嚕度嚕地尾娑婆訶。 〖三稱〗 普供養真言 唵誐誐曩三婆嚩伐日囉斛。 〖三稱〗 開經偈 無上甚深微妙法 百千萬刼難遭遇。 我今見聞得受持 願解如來真實義。 南無本師釋迦牟尼佛。 〖三稱〗 8
  • 7. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Án thổ địa chân ngôn Nam mô tam mãn đa, một đà nẩm. Án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha. Phổ cúng dường chân ngôn (Tam xưng) Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhật ra hộc. Khai kinh kệ (Tam xưng) Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp, Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ, Ngã kim kiến văn đắc thọ trì, Nguyện giải Như Lai chân thật nghĩa. Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật! (Tam xưng) 9
  • 8. 卷上 佛國品 第一 如是我聞。 一時佛在毘耶離菴羅樹園。與大比丘衆 八千人俱。菩薩三萬二千衆所知識。大智本 行皆悉成就。諸佛威神之所建立。為護法城 受持正法。能師子吼名聞十方。衆人不請友 而安之。紹隆三寶能使不絕。降伏魔怨制 諸外道。悉已清淨永離蓋纏。心常安住無 礙解脫。念定總持辯才不斷。布施持戒忍 辱精進禪定智慧。及方便力無不具足。逮 無所得不起法忍。已能隨順轉不退輪。善 解法相知衆生根。蓋諸大衆得無所畏。功 德智慧以修其心。 相好嚴身色像第一。捨諸世間所有飾 好。名稱高遠踰於須彌。深信堅固猶若金 剛。法寶普照而雨甘露。於衆言音微妙第 一。深入緣起斷諸邪見。有無二邊無復餘 10
  • 9. QUYỂN THƯỢNG PHẬT QUỐC PHẨM Đệ nhất Như thị ngã văn: Nhất thời, Phật tại Tỳ-da-ly, Am-la thọ viên, dữ đại tỳkheo chúng bát thiên nhân câu. Bồ Tát tam vạn nhị thiên, chúng sở tri thức. Đại trí bổn hạnh giai tất thành tựu. Chư Phật oai thần chi sở kiến lập, vị hộ pháp thành, thọ trì Chánh pháp, năng sư tử hống, danh văn thập phương. Chúng nhân bất thỉnh hữu nhi an chi. Thiệu long Tam bảo năng sử bất tuyệt. Hàng phục ma oán, chế chư ngoại đạo, tất dĩ thanh tịnh, vĩnh ly cái triền, tâm thường an trụ vô ngại giải thoát, niệm, định, tổng trì, biện tài bất đoạn. Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ cập phương tiện lực, vô bất cụ túc. Đãi vô sở đắc, bất khởi pháp nhẫn, dĩ năng tùy thuận chuyển bất thối luân. Thiện giải pháp tướng, tri chúng sinh căn. Cái chư đại chúng, đắc vô sở úy. Công đức trí huệ, dĩ tu kỳ tâm. Tướng hảo nghiêm thân, sắc tượng đệ nhất. Xả chư thế gian sở hữu sức hảo. Danh xưng cao viễn, du ư Tu-di. Thâm tín kiên cố, du nhược kim cang. Pháp bảo phổ chiếu, nhi vũ cam-lộ. Ư chúng ngôn âm, vi diệu đệ nhất. Thâm nhập duyên khởi, đoạn chư tà kiến, hữu vô nhị biên, vô 11
  • 10. 維摩詰所說經 習。演法無畏猶師子吼。其所講說乃如雷 震。無有量已過量。集衆法寶如海導師。 了達諸法深妙之義。善知衆生往來所趣及 心所行。近無等等佛自在慧十力無畏十八 不共。關閉一切諸惡趣門。而生五道以現 其身。為大醫王善療衆病。應病與藥令 得服行。無量功德皆成就。無量佛土皆嚴 淨。其見聞者無不蒙益。諸有所作亦不唐 捐。如是一切功德皆悉具足。 其名曰等觀菩薩。不等觀菩薩。等不等觀 菩薩。定自在王菩薩。法自在王菩薩。法相菩 薩。光相菩薩。光嚴菩薩。大嚴菩薩。寶積菩 薩。辯積菩薩。寶手菩薩。寶印手菩薩。常 舉手菩薩。常下手菩薩。常慘菩薩。喜根菩 薩。喜王菩薩。辯音菩薩。虛空藏菩薩。 執寶炬菩薩。寶勇菩薩。寶見菩薩。帝網 菩薩。明網菩薩。無緣觀菩薩。慧積菩 薩。寶勝菩薩。天王菩薩。壞魔菩薩。電 德菩薩。自在王菩薩。功德相嚴菩薩。師 子吼菩薩。雷音菩薩。山相擊音菩薩。香 象菩薩。白香象菩薩。常精進菩薩。不休 12
  • 11. Duy-ma-cật sở thuyết kinh phục dư tập. Diễn pháp vô úy, du sư tử hống. Kỳ sở giảng thuyết, nãi như lôi chấn. Vô hữu lượng, dĩ quá lượng, tập chúng pháp bảo, như hải đạo sư. Liễu đạt chư pháp thâm diệu chi nghĩa. Thiện tri chúng sinh vãng lai sở thú, cập tâm sở hành. Cận vô đẳng đẳng Phật tự tại huệ, thập lực, vô úy, thập bát bất cộng. Quan bế nhất thiết chư ác thú môn, nhi sinh ngũ đạo dĩ hiện kỳ thân. Vi đại y vương, thiện liệu chúng bệnh. Ứng bệnh dữ dược, linh đắc phục hành. Vô lượng công đức giai thành tựu. Vô lượng Phật độ giai nghiêm tịnh. Kỳ kiến văn giả, vô bất mông ích. Chư hữu sở tác diệc bất đường quyên. Như thị nhất thiết công đức giai tất cụ túc. Kỳ danh viết: Đẳng Quan Bồ Tát, Bất Đẳng Quan Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quan Bồ Tát, Định Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Đại Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ Tát, Biện Tích Bồ Tát, Bảo Thủ Bồ Tát, Bảo Ấn Thủ Bồ Tát, Thường Cử Thủ Bồ Tát, Thường Hạ Thủ Bồ Tát, Thường Thảm Bồ Tát, Hỷ Căn Bồ Tát, Hỷ Vương Bồ Tát, Biện Âm Bồ Tát, Hư Không Tạng Bồ Tát, Chấp Bảo Cự Bồ Tát, Bảo Dõng Bồ Tát, Bảo Kiến Bồ Tát, Đế Võng Bồ Tát, Minh Võng Bồ Tát, Vô Duyên Quan Bồ Tát, Huệ Tích Bồ Tát, Bảo Thắng Bồ Tát, Thiên Vương Bồ Tát, Hoại Ma Bồ Tát, Điện Đức Bồ Tát, Tự Tại Vương Bồ Tát, Công Đức Tướng Nghiêm Bồ Tát, Sư Tử Hống Bồ Tát, Lôi Âm Bồ Tát, Sơn Tướng Kích Âm Bồ Tát, Hương Tượng Bồ Tát, Bạch Hương Tượng Bồ Tát, Thường Tinh Tấn Bồ Tát, Bất Hưu 13
  • 12. 維摩詰所說經 息菩薩。妙生菩薩。華嚴菩薩。觀世音菩 薩。得大勢菩薩。梵網菩薩。寶杖菩薩。 無勝菩薩。嚴土菩薩。金髻菩薩。珠髻菩 薩。彌勒菩薩。文殊師利法王子菩薩。如 是等三萬二千人。 復有萬梵天王尸棄等。從餘四天下來 詣佛所而爲聽法。復有萬二千天帝。亦從 餘四天下來在會坐。并餘大威力諸天.龍 神.夜叉.乾闥婆.阿脩羅.迦樓羅.緊 那羅.摩睺羅伽.等悉來會坐。諸比丘比 丘尼優婆塞優婆夷俱來會坐。 彼時佛與無量百千之衆恭敬圍繞而為說 法。譬如須彌山王顯於大海。安處衆寶師 子之座。蔽於一切諸來大衆。 爾時毘耶離城有長者子。名曰寶積。與 五百長者子俱。持七寶蓋來詣佛所。頭面 禮足。各以其蓋共供養佛。佛之威神令諸 寶蓋合成一蓋。遍覆三千大千世界。而此 世界廣長之相悉於中現。又此三千大千世 界。諸須彌山雪山。目真鄰陀山摩訶目真 鄰陀山。香山寶山金山黑山。鐵圍山大鐵 14
  • 13. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Tức Bồ Tát, Diệu Sinh Bồ Tát, Hoa Nghiêm Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát, Phạm Võng Bồ Tát, Bảo Trượng Bồ Tát, Vô Thắng Bồ Tát, Nghiêm Độ Bồ Tát, Kim Kế Bồ Tát, Châu Kế Bồ Tát, Di-lặc Bồ Tát, Văn-thù Sư-lỵ Pháp vương tử Bồ Tát... Như thị đẳng tam vạn nhị thiên nhân. Phục hữu vạn Phạm thiên vương Thi-khí đẳng, tùng dư Tứ thiên hạ, lai nghệ Phật sở, nhi vị thính pháp. Phục hữu vạn nhị thiên thiên đế, diệc tùng dư Tứ thiên hạ, lai tại hội tọa. Tinh dư đại oai lực chư thiên, long thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-lagià đẳng, tất lai hội tọa. Chư tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bàtắc, ưu-bà-di, câu lai hội tọa. Bỉ thời, Phật dữ vô lượng bá thiên chi chúng cung kính vi nhiễu, nhi vị thuyết pháp. Thí như Tu-di sơn vương, hiển ư đại hải, an xử chúng bảo sư tử chi tọa, tế ư nhất thiết chư lai đại chúng. Nhĩ thời, Tỳ-da-ly thành, hữu trưởng giả tử danh viết Bảo Tích, dữ ngũ bá trưởng giả tử, câu trì thất bảo cái lai nghệ Phật sở, đầu diện lễ túc. Các dĩ kỳ cái, cộng cúng dường Phật. Phật chi oai thần linh chư bảo cái hiệp thành nhất cái, biến phú tam thiên đại thiên thế giới. Nhi thử thế giới quảng trường chi tướng, tất ư trung hiện. Hựu thử tam thiên đại thiên thế giới chư Tu-di sơn, Tuyết sơn, Mụcchân-lân-đà sơn, Ma-ha Mục-chân-lân-đà sơn, Hương sơn, Bảo sơn, Kim sơn, Hắc sơn, Thiết vi sơn, Đại thiết vi sơn, 15
  • 14. 維摩詰所說經 圍山。大海江河川流泉源。及日月星辰。 天宮龍宮。諸尊神宮。悉現於寶蓋中。又 十方諸佛諸佛說法亦現於寶蓋中。 爾時一切大衆。睹佛神力歎未曾有。合 掌禮佛瞻仰尊顏目不暫捨。於是長者子寶 積即於佛前以偈頌曰。 目淨脩廣如青蓮 心淨已度諸禪定  久積淨業稱無量 導衆以寂故稽首。 既見大聖以神變 普現十方無量土  其中諸佛演說法 於是一切悉見聞 。 法王法力超群生 常以法財施一切  能善分別諸法相 於第一義而不動 。 已於諸法得自在 是故稽首此法王  說法不有亦不無 16
  • 15. Duy-ma-cật sở thuyết kinh đại hải giang hà, xuyên lưu tuyền nguyên, cập nhật nguyệt tinh thần, thiên cung, long cung, chư tôn thần cung, tất hiện ư bảo cái trung. Hựu thập phương chư Phật, chư Phật thuyết pháp, diệc hiện ư bảo cái trung. Nhĩ thời, nhất thiết đại chúng, đổ Phật thần lực, thán vị tằng hữu. Hiệp chưởng lễ Phật, chiêm ngưỡng tôn nhan, mục bất tạm xả. Ư thị, trưởng giả tử Bảo Tích, tức ư Phật tiền, dĩ kệ tụng viết: Mục tịnh tu quảng như thanh liên, Tâm tịnh dĩ độ chư thiền định, Cửu tích tịnh nghiệp xứng vô lượng, Đạo chúng dĩ tịch cố khể thủ. Ký kiến đại thánh dĩ thần biến, Phổ hiện thập phương vô lượng độ, Kỳ trung chư Phật diễn thuyết pháp, Ư thị nhất thiết tất kiến văn. Pháp vương pháp lực siêu quần sinh, Thường dĩ pháp tài thí nhất thiết, Năng thiện phân biệt chư pháp tướng, Ư đệ nhất nghĩa nhi bất động. Dĩ ư chư pháp đắc tự tại, Thị cố khể thủ thử Pháp vương. Thuyết pháp bất hữu diệc bất vô, 17
  • 16. 維摩詰所說經 以因緣故諸法生。  無我無造無受者 善惡之業亦不亡  始在佛樹力降魔 得甘露滅覺道成。 已無心意無受行 而悉摧伏諸外道  三轉法輪於大千 其輪本來常清淨。  天人得道此為證 三寶於是現世間  以斯妙法濟群生 一受不退常寂然。  度老病死大醫王 當禮法海德無邊  毀譽不動如須彌 於善不善等以慈。  心行平等如虛空 孰聞人寶不敬承  今奉世尊此微蓋 於中現我三千界。  18
  • 17. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Dĩ nhân duyên cố chư pháp sinh. Vô ngã, vô tạo, vô thọ giả, Thiện ác chi nghiệp diệc bất vong. Thủy tại Phật thọ lực hàng ma, Đắc cam-lộ diệt, giác đạo thành. Dĩ vô tâm ý, vô thọ hành, Nhi tất tồi phục chư ngoại đạo. Tam Chuyển pháp luân ư đại thiên, Kỳ luân bổn lai thường thanh tịnh, Thiên nhân đắc đạo, thử vi chứng, Tam bảo ư thị hiện thế gian. Dĩ tư diệu pháp tế quần sinh, Nhất thọ bất thối, thường tịch nhiên. Độ lão, bệnh, tử đại y vương, Đương lễ Pháp hải đức vô biên. Hủy dự bất động như Tu-di, Ư thiện, bất thiện đẳng dĩ từ, Tâm hành bình đẳng như hư không, Thục văn Nhân bảo, bất kính thừa? Kim phụng Thế Tôn thử vi cái, Ư trung hiện ngã tam thiên giới: 19
  • 18. 維摩詰所說經 諸天龍神所居宮 乾闥婆等及夜叉  悉見世間諸所有 十力哀現是化變。  衆睹希有皆歎佛 今我稽首三界尊  大聖法王衆所歸 淨心觀佛靡不欣。  各見世尊在其前 斯則神力不共法  佛以一音演說法 衆生隨類各得解。  皆謂世尊同其語 斯則神力不共法  佛以一音演說法 衆生各各隨所解。  普得受行獲其利 斯則神力不共法  佛以一音演說法 或有恐畏或歡喜。  或生厭離或斷疑 20
  • 19. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Chư thiên, long, thần sở cư cung, Càn-thát-bà đẳng cập dạ-xoa, Tất kiến thế gian chư sở hữu. Thập lực ai hiện thị hóa biến, Chúng đổ hy hữu giai thán Phật. Kim ngã khể thủ Tam giới tôn, Đại thánh pháp vương: chúng sở quy, Tịnh tâm quan Phật, mỵ bất hân? Các kiến Thế Tôn tại kỳ tiền, Tư tắc thần lực bất cộng pháp, Phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp, Chúng sinh tùy loại các đắc giải. Giai vị: Thế Tôn đồng kỳ ngữ, Tư tắc thần lực bất cộng pháp. Phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp, Chúng sinh các các tùy sở giải, Phổ đắc thọ, hành, hoạch kỳ lợi, Tư tắc thần lực bất cộng pháp. Phật dĩ nhất âm diễn thuyết pháp, Hoặc hữu khủng úy, hoặc hoan hỷ, Hoặc sinh yếm ly, hoặc đoạn nghi, 21
  • 20. 維摩詰所說經 斯則神力不共法  稽首十力大精進 稽首已得無所畏。  稽首住於不共法 稽首一切大導師  稽首能斷衆結縛 稽首已到於彼岸。  稽首能度諸世間 稽首永離生死道  悉知衆生來去相 善於諸法得解脫。  不著世間如蓮華 常善入於空寂行  達諸法相無罣礙 稽首如空無所依。 爾時長者子寶積。說此偈已白佛言。 世尊。是五百長者子。皆已發阿耨多羅三 藐三菩提心。願聞得佛國土清淨。唯願世 尊。說諸菩薩淨土之行。 佛言。善哉寶積。乃能為諸菩薩問於如 來淨土之行。諦聽諦聽。善思念之。當為 汝說。 22
  • 21. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Tư tắc thần lực bất cộng pháp. Khể thủ thập lực đại tinh tấn. Khể thủ dĩ đắc vô sở úy. Khể thủ trụ ư bất cộng pháp. Khể thủ nhất thiết đại Đạo sư. Khể thủ năng đoạn chúng kết phược. Khể thủ dĩ đáo ư bỉ ngạn. Khể thủ năng độ chư thế gian. Khể thủ vĩnh ly sinh tử đạo. Tất tri chúng sinh lai khứ tướng, Thiện ư chư pháp đắc giải thoát, Bất trước thế gian, như liên hoa, Thường thiện nhập ư không tịch hạnh, Đạt chư pháp tướng, vô quái ngại, Khể thủ như không vô sở y. Nhĩ thời, trưởng giả tử Bảo Tích thuyết thử kệ dĩ, bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Thị ngũ bá trưởng giả tử, giai dĩ phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm, nguyện văn đắc Phật quốc độ thanh tịnh. Duy nguyện Thế Tôn thuyết chư Bồ Tát tịnh độ chi hạnh. Phật ngôn: Thiện tai Bảo Tích! Nãi năng vị chư Bồ Tát, vấn ư Như Lai tịnh độ chi hạnh. Đế thính, đế thính! Thiện tư niệm chi. Đương vị nhữ thuyết. 23
  • 22. 維摩詰所說經 於是寶積及五百長者子。受教而聽。 佛言。寶積。衆生之類是菩薩佛土。 所以者何。菩薩隨所化衆生而取佛土。隨 所調伏衆生而取佛土。隨諸衆生應以何國 入佛智慧而取佛土。隨諸衆生應以何國起 菩薩根而取佛土。所以者何。菩薩取於淨 國。皆為饒益諸衆生故。譬如有人欲於空 地造立宮室隨意無礙。若於虛空終不能 成。菩薩如是。為成就衆生故願取佛國。 願取佛國者非於空也。 寶積。當知直心是菩薩淨土。菩薩成佛 時不諂衆生來生其國。深心是菩薩淨土。 菩薩成佛時具足功德衆生來生其國。菩提 心是菩薩淨土。菩薩成佛時大乘衆生來生 其國。布施是菩薩淨土。菩薩成佛時一切 能捨衆生來生其國。持戒是菩薩淨土。菩 薩成佛時行十善道滿願衆生來生其國。忍 辱是菩薩淨土。菩薩成佛時三十二相莊嚴 衆生來生其國。精進是菩薩淨土。菩薩成 佛時勤修一切功德衆生來生其國。禪定是 菩薩淨土。菩薩成佛時攝心不亂衆生來生 24
  • 23. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Ư thị, Bảo Tích cập ngũ bá trưởng giả tử thọ giáo nhi thính. Phật ngôn: Bảo Tích! Chúng sinh chi loại thị Bồ Tát Phật độ. Sở dĩ giả hà? Bồ Tát tùy sở hóa chúng sinh nhi thủ Phật độ. Tùy sở điều phục chúng sinh nhi thủ Phật độ. Tùy chư chúng sinh ưng dĩ hà quốc nhập Phật trí huệ, nhi thủ Phật độ. Tùy chư chúng sinh ưng dĩ hà quốc khởi Bồ Tát căn, nhi thủ Phật độ. Sở dĩ giả hà? Bồ Tát thủ ư tịnh quốc, giai vị nhiêu ích chư chúng sinh cố. Thí như hữu nhân dục ư không địa, tạo lập cung thất, tùy ý vô ngại. Nhược ư hư không, chung bất năng thành. Bồ Tát như thị, vị thành tựu chúng sinh cố nguyện thủ Phật quốc. Nguyện thủ Phật quốc giả, phi ư không dã. Bảo Tích, đương tri trực tâm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, bất siểm chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Thâm tâm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, cụ túc công đức chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Bồ-đề tâm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, Đại thừa chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Bố thí thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, nhất thiết năng xả chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Trì giới thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, hành thập thiện đạo mãn nguyện chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Nhẫn nhục thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, tam thập nhị tướng trang nghiêm chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Tinh tấn thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, cần tu nhất thiết công đức chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Thiền định thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, nhiếp tâm bất 25
  • 24. 維摩詰所說經 其國。智慧是菩薩淨土。菩薩成佛時正定 衆生來生其國。四無量心是菩薩淨土。菩 薩成佛時成就慈悲喜捨衆生來生其國。四 攝法是菩薩淨土。菩薩成佛時解脫所攝衆 生來生其國。 方便是菩薩淨土。菩薩成佛時於一切法 方便無礙衆生來生其國。三十七道品是菩 薩淨土。菩薩成佛時念處正勤神足根力覺 道衆生來生其國。迴向心是菩薩淨土。菩 薩成佛時得一切具足功德國土。說除八難 是菩薩淨土。菩薩成佛時國土無有三惡八 難。自守戒行不譏彼闕是菩薩淨土。菩薩 成佛時國土無有犯禁之名。十善是菩薩淨 土。菩薩成佛時命不中夭。大富梵行所言 誠諦。常以軟語眷屬不離。善和諍訟言必 饒益。不嫉不恚正見衆生來生其國。 如是寶積。菩薩隨其直心則能發行。隨 其發行則得深心。隨其深心。則意調伏。 隨其調伏則如說行。隨如說行則能迴向。 隨其迴向則有方便。隨其方便則成就衆 26
  • 25. Duy-ma-cật sở thuyết kinh loạn chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Trí huệ thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, chánh định chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Tứ vô lượng tâm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, thành tựu từ, bi, hỷ, xả chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Tứ nhiếp pháp thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, giải thoát sở nhiếp chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Phương tiện thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, ư nhất thiết pháp phương tiện vô ngại chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Tam thập thất đạo phẩm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, niệm xứ, chánh cần, thần túc, căn, lực, giác, đạo chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Hồi hướng tâm thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, đắc nhất thiết cụ túc công đức quốc độ. Thuyết trừ bát nạn thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, quốc độ vô hữu tam ác, bát nạn. Tự thủ giới hạnh, bất cơ bỉ khuyết, thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, quốc độ vô hữu phạm cấm chi danh. Thập thiện thị Bồ Tát tịnh độ, Bồ Tát thành Phật thời, mạng bất trúng yểu, đại phú, phạm hạnh, sở ngôn thành đế, thường dĩ nhuyễn ngữ, quyến thuộc bất ly, thiện hòa tranh tụng, ngôn tất nhiêu ích, bất tật, bất khuể chánh kiến chúng sinh lai sinh kỳ quốc. Như thị, Bảo Tích! Bồ Tát tùy kỳ trực tâm, tắc năng phát hành. Tùy kỳ phát hành, tắc đắc thâm tâm. Tùy kỳ thâm tâm, tắc ý điều phục. Tùy kỳ điều phục, tắc như thuyết hành. Tùy như thuyết hành, tắc năng hồi hướng. Tùy kỳ hồi hướng, tắc hữu phương tiện. Tùy kỳ phương tiện, tắc thành tựu chúng sinh. Tùy thành tựu chúng sinh, 27
  • 26. 維摩詰所說經 生。隨成就衆生則佛土淨。隨佛土淨則說 法淨。隨說法淨則智慧淨。隨智慧淨則其 心淨。隨其心淨則一切功德淨。 是故寶積。若菩薩欲得淨土當淨其心。 隨其心淨則佛土淨。 爾時舍利弗。承佛威神作是念。若菩薩 心淨則佛土淨者。我世尊本為菩薩時意豈 不淨。而是佛土不淨若此。 佛知其念即告之言。於意云何。日月豈 不淨耶。而盲者不見。 對曰。不也。世尊。是盲者過非日月 咎。 舍利弗。衆生罪故不見如來國土嚴淨。 非如來咎。 舍利弗。我此土淨而汝不見。 爾時螺髻梵王語舍利弗。勿作是念。謂 此佛土以為不淨。所以者何。我見釋迦牟 尼佛土清淨。譬如自在天宮。 舍利弗言。我見此土。丘陵坑坎荊蕀沙 礫。土石諸山穢惡充滿。 螺髻梵王言。仁者心有高下。不依佛 慧。故見此土為不淨耳。 28
  • 27. Duy-ma-cật sở thuyết kinh tắc Phật độ tịnh. Tùy Phật độ tịnh, tắc thuyết pháp tịnh. Tùy thuyết pháp tịnh, tắc trí huệ tịnh. Tùy trí huệ tịnh, tắc kỳ tâm tịnh. Tùy kỳ tâm tịnh, tắc nhất thiết công đức tịnh. Thị cố Bảo Tích, nhược Bồ Tát dục đắc tịnh độ, đương tịnh kỳ tâm. Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh. Nhĩ thời, Xá-lỵ-phất, thừa Phật oai thần, tác thị niệm: Nhược Bồ Tát tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh giả. Ngã Thế Tôn, bổn vi Bồ Tát thời, ý khởi bất tịnh, nhi thị Phật độ bất tịnh nhược thử? Phật tri kỳ niệm, tức cáo chi ngôn: Ư ý vân hà? Nhật nguyệt khởi bất tịnh da, nhi manh giả bất kiến? Đối viết: Phất dã, Thế Tôn! Thị manh giả quá, phi nhật nguyệt cữu. Xá-lỵ-phất! Chúng sinh tội cố, bất kiến Như Lai quốc độ nghiêm tịnh, phi Như Lai cữu. Xá-lỵ-phất! Ngã thử độ tịnh, nhi nhữ bất kiến. Nhĩ thời, Loa Kế Phạm vương ngứ Xá-lỵ-phất: Vật tác thị niệm, vị thử Phật độ dĩ vi bất tịnh. Sở dĩ giả hà? Ngã kiến Thích-ca Mâu-ni Phật độ thanh tịnh, thí như Tự tại thiên cung. Xá-lỵ-phất ngôn: Ngã kiến thử độ, khưu lăng khanh khảm, kinh cức sa lịch, thổ thạch chư sơn, uế ác sung mãn. Loa Kế Phạm vương ngôn: Nhân giả tâm hữu cao hạ, bất y Phật huệ. Cố kiến thử độ vi bất tịnh nhĩ. 29
  • 28. 維摩詰所說經 舍利弗。菩薩於一切衆生悉皆平等。深 心清淨。依佛智慧。則能見此佛土清淨。 於是佛以足指按地。即時三千大千世界 若干百千珍寶嚴飾。譬如寶莊嚴佛無量功 德寶莊嚴土。一切大衆歎未曾有。而皆自 見坐寶蓮華。 佛告舍利弗。汝且觀是佛土嚴淨。 舍利弗言。唯然世尊。本所不見。本所 不聞。今佛國土嚴淨悉現。 佛語舍利弗。我佛國土常淨若此。為欲 度斯下劣人故示是衆惡不淨土耳。譬如諸 天共寶器食隨其福德飯色有異。 如是舍利弗。若人心淨便見此土功德莊 嚴。 當佛現此國土嚴淨之時。寶積所將五百 長者子皆得無生法忍。八萬四千人皆發阿 耨多羅三藐三菩提心。 佛攝神足。於是世界還復如故。求聲聞 乘者三萬二千諸天及人。知有為法皆悉無 常。遠塵離垢得法眼淨。八千比丘不受諸 法漏盡意解。 30
  • 29. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Xá-lỵ-phất! Bồ Tát ư nhất thiết chúng sinh, tất giai bình đẳng, thâm tâm thanh tịnh, y Phật trí huệ, tắc năng kiến thử Phật độ thanh tịnh. Ư thị, Phật dĩ túc chỉ án địa. Tức thời, tam thiên đại thiên thế giới, nhược can bá thiên trân bảo nghiêm sức, thí như Bảo Trang Nghiêm Phật vô lượng công đức bảo trang nghiêm độ. Nhất thiết đại chúng thán: Vị tằng hữu! Nhi giai tự kiến tọa bảo liên hoa. Phật cáo Xá-lỵ-phất: Nhữ khả quan thị Phật độ nghiêm tịnh? Xá-lỵ-phất ngôn: Duy nhiên, Thế Tôn! Bổn sở bất kiến, bổn sở bất văn. Kim Phật quốc độ nghiêm tịnh tất hiện. Phật cáo Xá-lỵ-phất: Ngã Phật quốc độ thường tịnh nhược thử. Vị dục độ tư hạ liệt nhân cố, thị thị chúng ác bất tịnh độ nhĩ. Thí như chư thiên, cộng bảo khí thực. Tùy kỳ phước đức, phạn sắc hữu dị. Như thị, Xá-lỵ-phất! Nhược nhân tâm tịnh, tiện kiến thử độ công đức trang nghiêm. Đương Phật hiện thử quốc độ nghiêm tịnh chi thời, Bảo Tích sở tương ngũ bá trưởng giả tử, giai đắc vô sinh pháp nhẫn. Bát vạn tứ thiên nhân, giai phát A-nậu-đa-la Tammiệu Tam-bồ-đề tâm. Phật nhiếp thần túc. Ư thị, thế giới hoàn phục như cố. Cầu Thanh văn thừa giả, tam vạn nhị thiên chư thiên cập nhân, tri hữu vi pháp giai tất vô thường, viễn trần ly cấu, đắc pháp nhãn tịnh. Bát thiên tỳ-kheo bất thọ chư pháp, lậu tận, ý giải. 31
  • 30. KINH DUY-MA-CẬT1 Cũng gọi là KINH GIẢI THOÁT KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN Hương tán Lò hương vừa đốt, Cõi pháp nức xông, Chư Phật hội lớn thảy đều nghe, Tùy chỗ kết mây lành, Lòng thành mới thấu, Chư Phật hiện toàn thân. Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát ma ha tát! Tịnh khẩu nghiệp chân ngôn: (Ba lần) Án, tu rị, tu rị, ma ha tu rị, tu tu rị, tát bà ha. Tịnh tam nghiệp chân ngôn: (Ba lần) Án ta phạ, bà phạ, thuật đà ta phạ, đạt ma ta phạ, bà phạ thuật độ hám. Án Thổ Địa Chân Ngôn: (Ba lần) Nam mô tam mãn đa, một đà nẩm. Án độ rô, độ rô, địa vĩ, ta bà ha. (Ba lần) 32
  • 31. Kinh Duy-ma-cật Phổ Cúng Dường Chân Ngôn: Án nga nga nẵng, tam bà phạ, phiệt nhựt ra hộc. Khai Kinh Kệ (Ba lần) Pháp mầu sâu thẳm chẳng chi hơn, Trăm ngàn muôn kiếp khó gặp được, Nay con thấy, nghe, được thọ trì, Nguyện giải Như Lai nghĩa chân thật. Nam mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật (Ba lần) 1 Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh (Sanskrit: Vimalakīrtinirdeśa-sūtra) thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh. Ngày nay không còn nguyên bản Phạn ngữ (Sanskrit) mà chỉ còn lại các bản chữ Hán. Có nhiều bản dịch chữ Hán, trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất là: 1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (佛說維摩詰經) , 2 quyển, do ngài Chi Khiêm dịch vào thời Tam quốc (223-253). 2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh (維摩詰所說經) 3 quyển, do ngài Cưuma-la-thập (344 - 413) dịch vào năm 406, là bản dịch quan trọng nhất và được sử dụng nhiều nhất, chính là bản kinh này. 3. Thuyết vô cấu xưng kinh (說無垢稱經), 6 quyển, do ngài Huyền Trang (600 - 664) dịch vào năm 650. Cũng gọi theo nghĩa là Tịnh danh kinh. Duy-ma-cật là tên vị bồ tát hiện thân cư sĩ trong kinh này, gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật (Sanskrit: Vimalakīrti), dịch nghĩa là Vô Cấu Xưng ( 無垢稱) trước đây cũng dịch là Tịnh Danh (淨名). 33
  • 32. QUYỂN THƯỢNG Phẩm thứ nhất CÕI PHẬT T ôi nghe như thế này: 1 Một thuở nọ, đức Phật ngự tại thành Tỳ-da-ly, trong vườn cây Am-la với chúng đại tỳ-kheo là tám ngàn người, Bồ Tát là ba mươi hai ngàn vị mà ai ai cũng đều biết đến, đều đã thành tựu về đại trí và bổn hạnh. Oai thần mà chư Phật đã gầy dựng được, chư Bồ Tát ấy nương vào đó mà hộ vệ thành trì đạo pháp. Các ngài thọ lãnh giữ gìn Chánh pháp, có thể thuyết pháp hùng hồn như tiếng sư tử rống, danh tiếng các ngài bay khắp mười phương. Chẳng đợi sự thỉnh cầu giúp đỡ mà các ngài tự mang sự an ổn đến cho mọi người. Các ngài tiếp nối làm hưng thạnh Tam bảo,3 khiến cho lưu truyền chẳng dứt. Hàng phục ma oán, chế ngự các ngoại đạo, các ngài đã trở nên thanh tịnh, lìa hẳn các phiền não che phủ quấn quít, lòng hằng trụ yên nơi giải thoát vô ngại, niệm, định, tổng trì,1 tài biện thuyết chẳng gián đoạn. Các 1 Tôi nghe như thế này (Như thị ngã văn): là lời ngài A-nan thuật lại. Tất cả kinh Phật đều mở đầu bằng câu này, để chỉ rõ là do ngài A-nan, bậc đa văn đệ nhất, nghe chính từ kim khẩu của Phật thuyết ra và sau đó mới ghi chép lại. 2 Tam bảo: ba ngôi quý nhất ở thế gian, đó là: Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. 34
  • 33. Cõi Phật ngài có đầy đủ những đức: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ và sức phương tiện. Các ngài đạt tới mức tự thấy mình không chứng đắc chi cả, chẳng cần khởi lòng nhẫn nhịn đối với mọi sự việc mà biết tùy thuận căn cơ của chúng sinh để quay bánh xe Pháp chẳng thối lui.2 Các ngài biết rõ tướng trạng các pháp, hiểu được căn tánh chúng sinh. Các ngài bao trùm khắp đại chúng, đạt đến chỗ an ổn không sợ sệt. Các ngài tu tâm mình bằng công đức trí huệ. Những tướng chánh quý và những tướng phụ tốt tô điểm thân thể, làm cho dung sắc hình tượng các ngài đẹp đẽ bậc nhất. Các ngài chê bỏ mọi món trang sức tốt đẹp của thế gian. Danh tiếng của các ngài rất cao xa, vượt khỏi núi Tu-di. Đức tin của các ngài sâu vững như kim cang. Chánh pháp quý giá của các ngài soi sáng khắp nơi và tuôn xuống như mưa cam-lộ.3 Tiếng nói của các ngài vi diệu đệ nhất. Các ngài thấu nhập sâu xa tới chỗ phát khởi của nhân duyên, chặt đứt các ý kiến tà vạy và ý kiến thiên lệch về hai bên, chẳng nghiêng về chấp có hoặc chấp không. Các ngài không còn những thói quen xấu. Các ngài diễn giảng pháp giáo một cách hùng hồn không sợ sệt, dường như tiếng sư tử rống. Tiếng giảng thuyết của các ngài vang dội như sấm 1 Tổng trì (總持): nghĩa là “thâu nhiếp hết tất cả”, dịch chữ dhāraṇī trong tiếng Sanskrit, phiên âm là đà-la-ni. 2 Có tài nương theo chí hướng của người nghe mà thuyết pháp, đưa họ lên đường tấn hóa đạo đức. 3 Cam-lộ (Sanskrit: ) phiên âm là , chất nước ngon ngọt, uống vào được sống lâu, rưới trên mình thì trừ hết bệnh tật. 35
  • 34. Kinh Duy-ma-cật dậy, không thể đong lường, quá số đong lường. Những điều quý giá mà các ngài thâu góp được trong Chánh pháp nhiều như châu báu mà một vị hải đạo sư 1 tìm được ở biển cả. Các ngài thấu rõ nghĩa lý sâu xa huyền diệu của các pháp. Các ngài biết rành chỗ đã qua và chỗ sẽ đến của chúng sinh, cùng mọi manh động trong tâm ý của họ. Các ngài gần tới mức huệ tự tại của Phật mà không ai sánh bằng. Huệ ấy bao gồm những đức như: mười trí lực, lòng chẳng sợ, mười tám món công đức vượt trên hàng nhị thừa.2 Các ngài đã đóng kín hết các đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, nhưng tự mình thị hiện sinh sống trong năm đường: cõi trời, cõi người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Làm bậc đại y vương, các ngài trị lành các thứ bệnh. Tùy bệnh mà cho thuốc, các ngài khiến người ta được lành mạnh. Các ngài đều thành tựu vô lượng công đức. Vô lượng cõi Phật đều được các ngài làm cho trang nghiêm, thanh tịnh. Những ai 1 Hải đạo sư: vị chủ thuyền cầm đầu một số người đi ra biển cả để tìm châu báu, ngọc quý. 2 Thập bát bất cộng pháp (十八不共法 - Sanskrit: aṣṭādaśa āveṇikā buddha-dharmāḥ): Mười tám pháp bất cộng, vượt cao hơn các quả vị Tiểu thừa và Duyên giác thừa, duy chỉ có hàng Bồ Tát Đại thừa mới đạt đến, cũng gọi là Thập bát bất cụ pháp, bao gồm: 1.Thân vô thất (Thân không lỗi) 2. Khẩu vô thất (Miệng không lỗi) 3. Niệm vô thất (Ý tưởng không lỗi) 4. Vô dị tưởng (Không có ý tưởng xen tạp) 5. Vô bất định tâm (Không có tâm xao động) 6. Vô bất tri dĩ xả (Chẳng phải không biết chuyện đã bỏ). 7. Dục vô diệt (Sự dục không diệt) 8. Tinh tấn vô diệt (Sự tinh tấn không diệt) 9. Niệm vô diệt (Ý tưởng không diệt) 36
  • 35. Cõi Phật nghe biết đến các ngài, thảy đều được lợi ích. Những việc mà các ngài làm đều mang lại lợi lạc cho chúng sinh. Tất cả những công đức như vậy, các ngài đều có đầy đủ. Danh hiệu của các ngài là: Bồ Tát Đẳng Quan, Bồ Tát Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Đẳng Bất Đẳng Quan, Bồ Tát Định Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tự Tại Vương, Bồ Tát Pháp Tướng, Bồ Tát Quang Tướng, Bồ Tát Quang Nghiêm, Bồ Tát Đại Nghiêm, Bồ Tát Bảo Tích, Bồ Tát Biện Tích, Bồ Tát Bảo Thủ, Bồ Tát Bảo Ấn Thủ, Bồ Tát Thường Cử Thủ, Bồ Tát Thường Hạ Thủ, Bồ Tát Thường Thảm, Bồ Tát Hỷ Căn, Bồ Tát Hỷ Vương, Bồ Tát Biện Âm, Bồ Tát Hư Không Tạng, Bồ Tát Chấp Bảo Cự, Bồ Tát Bảo Dũng, Bồ Tát Bảo Kiến, Bồ Tát Đế Võng, Bồ Tát Minh Võng, Bồ Tát Vô Duyên Quan, Bồ Tát Huệ Tích, Bồ Tát Bảo Thắng, Bồ Tát Thiên Vương, Bồ Tát Hoại Ma, Bồ Tát Điện Đức, Bồ Tát Tự Tại Vương, Bồ Tát Công Đức Tướng Nghiêm, Bồ Tát Sư Tử 10. Huệ vô diệt (Trí huệ không diệt) 11. Giải vô diệt (Giải thoát không diệt) 12. Giải thoát tri kiến vô diệt (Giải thoát tri kiến không diệt) 13. Nhất thiết thân nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của thân tùy theo trí huệ mà thi hành). 14. Nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của miệng tùy theo trí huệ mà thi hành). 15. Nhất thiết ý nghiệp tùy trí huệ hành (Hết thảy nghiệp của ý tùy theo trí huệ mà thi hành). 16. Trí huệ tri quá khứ thế vô ngại (Trí huệ biết đời quá khứ không ngại.) 17. Trí huệ tri vị lai thế vô ngại (Trí huệ biết đời vị lai không ngại.) 18. Trí huệ tri hiện tại thế vô ngại (Trí huệ biết đời hiện tại không ngại.) 37
  • 36. Kinh Duy-ma-cật Hống, Bồ Tát Lôi Âm, Bồ Tát Sơn Tướng Kích Âm, Bồ Tát Hương Tượng, Bồ Tát Bạch Hương Tượng, Bồ Tát Thường Tinh Tấn, Bồ Tát Bất Hưu Tức, Bồ Tát Diệu Sinh, Bồ Tát Hoa Nghiêm, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đắc Đại Thế, Bồ Tát Phạm Võng, Bồ Tát Bảo Trượng, Bồ Tát Vô Thắng, Bồ Tát Nghiêm Độ, Bồ Tát Kim Kế, Bồ Tát Châu Kế, Bồ Tát Di-lặc, Bồ Tát Pháp vương tử Văn-thù Sư-lỵ... Những Bồ Tát như vậy là ba mươi hai ngàn vị. Lại có mười nghìn Phạm Thiên Vương, như Phạm vương Thi Khí..., từ các cõi Tứ thiên hạ1 khác đến nơi Phật ngự để nghe pháp. Lại có một mười hai ngàn vị thiên đế, cũng từ các cõi Tứ thiên hạ khác đến dự pháp hội. Cũng có cả chư thiên oai đức lớn, long thần, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, thảy đều đến ngồi nơi pháp hội. Chư tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di2 cũng về ngồi trong pháp hội. Lúc ấy, Phật vì đại chúng vô lượng trăm ngàn người cung kính bao quanh mà thuyết pháp, như núi chúa Tu-di hiện rõ trên biển cả, Ngài ngồi yên trên tòa sư tử nghiêm sức bởi các báu, che mờ tất cả đại chúng đến dự pháp hội. 1 Tứ Thiên hạ: Một thế giới có bốn châu, gọi là một Tứ thiên hạ. Cũng gọi là Tứ châu. Bốn cõi ở bốn phương của thế giới này: 1. Phất-bà-đề tại phương Đông. 2. Cồ-da-ni tại phương Tây. 3. Diêm-phù-đề tại phương Nam. 4. Câu-lư-châu tại phương Bắc. Diêm-phù-đề là một cõi trong Bốn cõi thiên hạ. 2 Tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di: Còn gọi là Tứ bộ chúng, tức là bốn hàng đệ tử của Phật. Tỳ kheo là nam giới xuất gia, thọ đủ giới. Tỳ 38
  • 37. Cõi Phật Lúc bấy giờ, trong thành Tỳ-da-ly có một chàng con nhà trưởng giả, tên là Bảo Tích, cùng năm trăm chàng con nhà trưởng giả khác, thảy đều cầm những lọng bảy báu, đến nơi Phật ngự, đầu và mặt làm lễ sát chân Phật. Mỗi chàng đều đem lọng của mình mà cúng dường Phật. Oai thần của Phật khiến cho các lọng báu hiệp thành một cái lọng duy nhất, che trùm cả thế giới tam thiên đại thiên.3 Trọn tướng rộng dài của thế giới này đều hiện đủ trong cái lọng ấy. Lại nữa, các núi Tu-di, Tuyết sơn, Mục-chân-lânđà, Ma-ha Mục-chân-lân-đà, Hương sơn, Hắc sơn, Thiết vi, Đại thiết vi, cùng với biển cả, sông cái, sông con, rạch, suối, nguồn, cùng mặt trời, mặt trăng, các tinh tú, thiên cung, long cung, cung điện của các tôn thần thuộc thế giới tam thiên đại thiên này thảy đều hiện ra trong lọng báu ấy. Lại nữa, chư Phật mười phương, chư Phật đang thuyết pháp cũng hiện ra trong lọng báu ấy. Lúc ấy, tất cả đại chúng thấy sức thần của Phật, đều khen là chưa từng có. Cùng nhau chắp tay lễ Phật, chiêm ngưỡng vẻ mặt của Phật, mắt chẳng xao lãng. Chàng Bảo Tích, con nhà trưởng giả, liền đối trước Phật tụng kệ rằng: kheo ni là nữ giới xuất gia, thọ đủ giới. Ưu-bà-tắc hay cư sĩ nam là nam giới tu tại gia. Ưu-bà-di hay cư sĩ nữ là nữ giới tu tại gia. 1 Tam thiên đại thiên: Một cõi thế giới lớn, hiệp bởi 1.000.000.000 quả địa cầu. 39
  • 38. Kinh Duy-ma-cật Mắt trong, dài, rộng như sen xanh, Lòng sạch qua khỏi các thiền định, Tịnh nghiệp chứa lâu, lường không xiết, Dùng tịch dắt chúng, đáng đảnh lễ! Đã thấy Đại thánh dùng Thần biến, Hiện vô lượng cõi khắp mười phương, Chư Phật thuyết pháp các cõi ấy, Ở đây ai nấy đều nghe thấy. Pháp lực Pháp vương vượt quần sinh, Thường đem của pháp thí tất cả, Có tài phân biệt tướng các pháp, Đối Đệ nhất nghĩa, chẳng động chuyển. Đối với các pháp được tự tại, Cho nên đảnh lễ Pháp vương này. Nói pháp chẳng có cũng chẳng không, Các pháp do nhân duyên mà sinh. Không ta, không tạo, không người thọ, Nghiệp lành, nghiệp dữ cũng chẳng mất. Trước dẹp ma tại cội Bồ-đề, Đắc Diệt cam-lộ, thành giác đạo. Đã không tâm ý, không thọ hành, 40
  • 39. Cõi Phật Mà tồi phục hết các ngoại đạo. Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên,1 Pháp ấy xưa nay thường trong sạch: Trời, người đắc đạo, đó là chứng, Tam bảo lúc ấy hiện thế gian. Đem diệu pháp ấy cứu quần sinh, Thọ rồi, chẳng thối, thường tịch nhiên, Đại y vương2 độ lão, bệnh, tử, Nên lễ Pháp hải đức vô biên.3 Chê, khen chẳng động, như Tu-di, Người lành, kẻ dữ, Phật thương đều, 1 Ba Chuyển pháp luân ở đại thiên (Tam Chuyển pháp luân ư đại thiên): Đức Phật Thích-ca thành đạo rồi, ngài vào Vườn Lộc gần thành Ba-lanại thuyết pháp lần đầu, gọi là Chuyển pháp luân (quay bánh xe pháp), thuyết pháp Tứ diệu đế bằng ba cách: Thị, Khuyến, Chứng, gọi là Tam chuyển pháp luân. 1. Thị chuyển: Đây là khổ, đây là tập, đây là diệt, đây là đạo. Ngài chỉ rõ bốn tướng của Bốn đế. 2. Khuyến chuyển: Nên biết lẽ khổ, nên dứt lẽ tập (nguyên nhân của khổ), nên chứng lẽ diệt, nên tu lẽ đạo. Tức là Phật khuyên tu hành Bốn đế. 3. Chứng chuyển: Ta đã biết lẽ khổ, ta đã dứt lẽ tập, ta đã chứng lẽ diệt, ta đã tu lẽ đạo. Phật xác nhận rằng ngài thành đạo nhờ hiểu thấu và thực hành Bốn đế. 2 Đại y vương: Vua thầy thuốc lớn, tiếng để tôn xưng Phật. 3 Pháp hải đức vô biên: Biển pháp đức hạnh không bờ bến, tiếng để tôn xưng Phật. 41
  • 40. Kinh Duy-ma-cật Lòng hành bình đẳng như hư không, Ai nghe Nhân bảo1 chẳng kính vâng? Nay hiến Thế Tôn lọng báu này, Cõi thế giới ta hiện trong ấy: Cung điện các vị trời, rồng, thần, Càn-thát-bà với cung dạ-xoa, Mọi vật thế gian thấy trong đó. Thập lực2 phương tiện biến hóa ấy, Thấy việc ít có, chúng khen Phật. Nay ta đảnh lễ Tam giới tôn, Đại thánh Pháp vương: chỗ chúng theo, Tâm tịnh nhìn Phật, ai chẳng vui? 1 Nhân bảo: Ngôi báu, của quý trong loài người, tiếng để tôn xưng Phật. Thập lực (十力, Sanskrit: daśabala, Pāli: dasabala): Đức Phật có đủ mười Trí lực, nên xưng ngài là Thập lực. Mười Trí lực của Phật là: 1. Tri thị xứ phi xứ trí lực (知是處非處智力, Sanskrit: sthānāsthānajñāna, Pāli: ṭhānāṭhāna-ñāṇa): Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp. 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (知三世業報智力, Sanskrit: karmavipākajñāna, Pāli: kammavipāka-ñāṇa): Biết rõ luật nhân quả (hay nghiệp quả), tức là nhân nào tạo thành quả nào. 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực (知一切所道智力, Sanskrit: sarvatragāmi­ īpratipaj-jñāna, Pāli: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa): n Biết rõ các nguyên nhân dẫn đến tái sinh về các cảnh giới khác nhau. 4. Tri chủng chủng giới trí lực (智種種界智力, Sanskrit: anekadhātunānādhātujñāna, Pāli: anekadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố hình thành. 2 42
  • 41. Cõi Phật Thảy thấy Thế Tôn trước mặt mình, Thần lực của Ngài chẳng ai bằng. Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Chúng sinh loài nào cũng hiểu được, Họ bảo: Thế Tôn nói tiếng mình, Như vậy, thần lực chẳng ai bằng. Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Chúng sinh ai nấy tùy chỗ hiểu, Thảy được thọ, hành, thâu lợi ích, Như vậy, thần lực chẳng ai bằng. 5. Tri chủng chủng giải trí lực (知種種解智力, Sanskrit: nānādhimukti-jñāna, Pāli: nānādhimuttikatāñāṇa): Biết rõ cá tính của mỗi chúng sinh. 6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (知一切眾生心性智 力, Sanskrit: indriyapārapara-jñāna, Pāli: indriyaparopariyattañāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mỗi chúng sinh. 7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (知諸禪解脫三昧智 力, Sanskrit: sarvadhyāna-vimokṣa-ñāna, Pāli: jhāna-vimokkhañāṇa): Biết rõ tất cả các phương thức thiền định. 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (知宿命無漏智力, Sanskrit: pūrvanivāsānusmṛti-jñāna, Pāli: pubbennivāsānussati-ñāṇa): Biết rõ các tiền kiếp của chính mình. 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (知天眼無礙智力, Sanskrit: cyutyu­ apādajñāna, Pāli: cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự hoại diệt p và tái sinh của chúng sinh. 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (知永斷習氣智力, Sanskrit: āśravakṣayajñāna, Pāli: āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các pháp ô nhiễm (Sanskrit: ) sẽ chấm dứt như thế nào. Các trí lực thứ 8, thứ 9 và thứ 10 cũng chính là Tam minh của Phật. 43
  • 42. Kinh Duy-ma-cật Thuyết pháp, Phật dùng một thứ tiếng, Kẻ nghe sợ sệt hoặc vui vẻ, Hoặc sinh chán lìa, hoặc dứt nghi, Như vậy, Thần lực chẳng ai bằng. Đảnh lễ Thập lực đại tinh tấn. Đảnh lễ Bậc đắc không sợ sệt. Đảnh lễ Bậc trụ Bất cộng pháp. Đảnh lễ Thầy lớn dắt tất cả. Đảnh lễ Bậc dứt các trói buộc. Đảnh lễ Bậc tới bờ bên kia. Đảnh lễ Bậc độ các thế gian. Đảnh lễ Bậc lìa đường sinh tử. Biết rõ tướng lai khứ chúng sinh, Hiểu rành các pháp được giải thoát, Chẳng nhiễm thế gian, như hoa sen, Thường khéo vào nơi hạnh không tịch, Thấu các tướng pháp, không trở ngại, Đảnh lễ Như Không, chẳng dựa đâu. Lúc ấy, chàng Bảo Tích tụng những câu kệ ấy rồi, bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Năm trăm chàng con nhà 44
  • 43. Cõi Phật trưởng giả đây, thảy đều đã phát tâm A-nậu-đa-la Tammiệu Tam-bồ-đề,1 nay muốn nghe việc được quốc độ thanh tịnh của Phật. Xin đức Thế Tôn giảng thuyết các hạnh tịnh độ của chư Bồ Tát.” Phật phán: “Lành thay, Bảo Tích! Ngươi đã vì chư Bồ Tát hỏi Như Lai về hạnh tịnh độ. Hãy lắng nghe, lắng nghe! Hãy suy nghĩ cho kỹ. Ta sẽ vì ngươi mà giảng thuyết.” Lúc ấy, Bảo Tích và năm trăm chàng con nhà trưởng giả vâng lời dạy ngồi nghe. Phật dạy Bảo Tích rằng: “Các loài chúng sinh là cõi Phật của Bồ Tát. Tại sao vậy? Bồ Tát tùy theo chỗ giáo hóa chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy theo chỗ điều phục chúng sinh mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để vào trí huệ Phật mà giữ lấy cõi Phật. Tùy các chúng sinh muốn dùng cõi nước nào để phát khởi căn Bồ Tát mà giữ lấy cõi Phật. Tại sao vậy? Bồ Tát giữ lấy cõi nước thanh tịnh là vì muốn làm lợi ích cho chúng sinh. Tỷ như người ta muốn tạo lập cung điện nhà cửa trên đất trống thì tùy ý mà tạo lập, không chi trở ngại. Nhưng nếu muốn xây cất nơi hư không thì không thể được. Bồ Tát cũng vậy, vì muốn giúp cho chúng sinh được thành tựu, cho nên nguyện giữ lấy cõi Phật. Việc nguyện giữ lấy cõi Phật đó, chẳng phải là việc xây cất nơi hư không. 1 Phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề: phát nguyện thành Phật, nguyện tu tập hạnh Bồ Tát, hồi hướng về quả vị Phật. 45
  • 44. Kinh Duy-ma-cật Bảo Tích! Nên biết rằng: Tâm ngay thẳng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chẳng nịnh bợ sinh về nước ấy. Tâm sâu vững là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh đầy đủ công đức sinh về nước ấy. Tâm bồ-đề là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh Đại thừa sinh về nước ấy. Bố thí là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có thể bỏ tất cả sinh về nước ấy. Trì giới là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh làm mười việc lành1 tròn nguyện sinh về nước ấy. Nhẫn nhục là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sinh được trang nghiêm bởi 1 Thập thiện đạo hay Thập thiện là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3 việc), miệng (4 việc) và ý (3 việc). Bao gồm: 1. Bất sát sinh (不殺生, Sanskrit: pāṇāṭipātā paṭivirati): Không sát hại, phải tha thứ, phóng sinh. 2. Bất thâu đạo (不偷盜, Sanskrit: adattādānādvirati): Không trộm cắp, phải thường làm việc bố thí. 3. Bất tà dâm (不邪婬, Sanskrit: kāmamithyācārādvirati): Không tà dâm, phải chung thủy trong cuộc sống một vợ một chồng. 4. Bất vọng ngữ (不妄語, Sanskrit: mṛṣāvādātvirati): Không nói xằng, nói bậy, phải nói lời chân thật. 5. Bất lưỡng thiệt (不兩舌, Sanskrit: paisunyātvirati): Không nói hai lưỡi, nói theo cách đòn xóc hai đầu, phải nói lời cương trực, chân chánh. 6. Bất ác khẩu (不惡口, Sanskrit: pāruṣyātprativirati): Không nói xấu người, phải nói lời hòa giải, hàn gắn. 7. Bất ỷ ngữ (不綺語, Sanskrit: saṃbinnapralāpātprativirati): Không dùng lời thêu dệt không đâu, phải nói lời có ích, có nghĩa lý. 46
  • 45. Cõi Phật ba mươi hai tướng tốt sinh về nước ấy. Tinh tấn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh siêng tu tất cả công đức sinh về nước ấy. Thiền định là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh giữ tâm chẳng loạn sinh về nước ấy. Trí huệ là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh chánh định sinh về nước ấy. Bốn tâm vô lượng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh thành tựu các đức từ, bi, hỷ, xả sinh về nước ấy. Bốn pháp thâu nhiếp2 là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh 8. Bất tham dục (不貪欲, Sanskrit: abhidhyāyāḥprativirati): Không tham lam, phải hiểu rằng mọi vật là chẳng thật, bất tịnh, vô thường. 9. Bất thận khuể (不慎恚, Sanskrit: vyāpādātprativirati): Không giận dữ, phải từ bi nhẫn nhục. 10. Bất tà kiến (不邪見, Sanskrit: mithyādṛṣṭi-prativirati): Không ôm ấp những ý niệm, kiến giải sai lầm, phải sáng suốt chánh kiến. 1 Bốn pháp thâu nhiếp (Tứ nhiếp pháp - 四攝法 Sanskrit: catvārisaṃgrahavastūni): bốn phương cách mà một vị Bồ Tát dùng để nhiếp phục chúng sinh: 1. Bố thí nhiếp (布施攝, Sanskrit: dāna), nghĩa là dùng việc bố thí để nhiếp phục người. 2. Ái ngữ nhiếp (愛語攝, Sanskrit: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để nhiếp phục người. 3. Lợi hành nhiếp (利行攝, Sanskrit: arthacaryā), nghĩa là dùng hành động vị tha, có lợi cho người khác để nhiếp phục họ. 4. Đồng sự nhiếp (同事攝, Sanskrit: samānārthatā), nghĩa là cùng hòa nhập, chung cùng với chúng sinh, người thiện cũng như người ác, để hướng dẫn họ đến bờ chỗ giác ngộ. 47
  • 46. Kinh Duy-ma-cật thoát khỏi chỗ nắm giữ sinh về nước ấy. Phương tiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh đối với tất cả các pháp tùy nghi vô ngại sinh về nước ấy. Ba mươi bảy phẩm trợ đạo1 là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, những chúng sinh có Bốn niệm xứ,2 Bốn chánh cần,3 Bốn thần túc,4 Năm căn,5 1 Ba mươi bảy phẩm trợ đạo: (Tam thập thất trợ đạo phẩm, 三十七助道 品 Sanskrit: saptatriṃṣaḍbodhipākṣika-dharma) Gồm cả thảy 37 pháp, chia làm 7 nhóm: 1. Bốn niệm xứ (四念處, Tứ niệm xứ, Sanskrit: catuḥsmṛtyu-pasthāna). 2. Bốn tinh tiến (四正勤, Tứ chính cần, Sanskrit: samyak-prahānāni). 3. Bốn Như ý túc (四如意足, Tứ như ý túc, Sanskrit: ṛddhipāda), 4. Năm căn (五根, Ngũ căn, Sanskrit: pañcendriya). 5. Năm lực (無力, Ngũ lực, Sanskrit, Pāli: pañcabala). 6. Bảy giác chi (七覺支, Thất giác chi, Sanskrit: sapta-bodhyaṅga). 7. Bát chính đạo (八正道, Sanskrit: aṣṭāṅgika-mārga). Tổng cộng là 37 pháp, sẽ được lần lượt trình bày chi tiết trong các chú giải tiếp theo đây. 2 Bốn niệm xứ (四念處, Tứ niệm xứ, Sanskrit: catuḥsmṛtyupasthāna), bốn đối tượng được nhớ đến, hay bốn phép quán tưởng, gồm có: 1. Quán thân bất tịnh (Thân niệm xứ): Quán thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào, cũng như tỉnh giác trong bốn sự vận động cơ bản của thân là đi, đứng, nằm, ngồi. Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát các phần thân thể, các yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi. 2. Quán thọ thị khổ (Thọ niệm xứ): Quán thọ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc phát khởi trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế gian, biết tính vô thường của chúng. 48
  • 47. Cõi Phật 3. Quán tâm vô thường (Tâm niệm xứ): Quán tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay không có tham, sân hay không có sân, hoặc si hay không có si. 4. Quán pháp vô ngã (Pháp niệm xứ): Quán pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều vô ngã, biết rõ Năm chướng ngại có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Năm uẩn đang tụ họp, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Bốn chân lý (Tứ diệu đế). 3 Tứ chánh cần (四正勤, Sanskrit: samyak-prahāṇāni, Pāli: sammāpadhāṇa): bốn phương pháp tinh tấn chuyên cần để loại trừ các pháp bất thiện. Bốn pháp tinh cần ấy là: 1. Tinh tấn trong việc ngăn ngừa, tránh làm các điều ác từ lúc còn chưa sinh khởi (Sanskrit: anutpannapāpakākuśaladharma). 2. Tinh tấn trong việc từ bỏ, vượt qua những điều ác đã sinh khởi (Sanskrit: utpanna-pāpakākuśala-dharma). 3. Tinh tấn phát triển các điều thiện đã có (Sanskrit: utpannakuśaladharma). 4. Tinh tấn làm cho các điều thiện phát sinh (Sanskrit: anutpannakuśaladharma). Bốn pháp tinh cần này cũng chính là Chánh tinh tấn trong Bát chánh đạo. 4 Bốn thần túc (Tứ thần túc), hay còn được gọi là Tứ như ý túc (四如意足, Sanskrit: catvāra ṛddhipādāḥ). Bao gồm: 1. Dục như ý túc (Sanskrit: chanda): tập trung vào ý chí mạnh mẽ. 2. Tinh tấn như ý túc (Sanskrit: vīrya): tập trung vào nghị lực. 3. Tâm như ý túc (Sanskrit: citta): sự chú tâm. 4. Trạch pháp như ý túc (Sanskrit: mīmāṃsā): chú tâm vào sự tra tìm. 5 Năm căn (Ngũ căn, 五根 Sanskrit: pañca-indriya): Năm pháp căn bản làm nảy sinh các thiện pháp khác, nên còn gọi là Năm căn lành: 1. Tín căn (信根): sự tin tưởng vào Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng) và Bốn chân lý (Tứ diệu đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo). 2. Tinh tấn căn (精進根), hay Cần căn, là sự dũng mãnh tinh tấn trong việc tu tập các thiện pháp. 3.Niệm căn (念根), lòng nghĩ nhớ, niệm tưởng đến Chánh pháp. 4. Định căn (定根), nhiếp giữ tâm định mà không mất. 5. Huệ căn (慧根), trí huệ suy xét, hiểu rõ được chân lý. 49
  • 48. Kinh Duy-ma-cật Năm sức,1 Bảy thánh giác,2 Tám chánh đạo3 sinh về nước ấy. Tâm hồi hướng là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, ngài được quốc độ đầy đủ tất cả công đức. Thuyết trừ tám nạn là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, 1 Năm sức (Ngũ lực), bao gồm: 1. Tín lực (信力, Sanskrit: śraddhābala): có đức tin mạnh mẽ vào Chánh pháp, từ bỏ những sự tin tưởng sai lầm. 2. Tinh tấn lực (精進力, Sanskrit: vīryabala): năng lực tu trì Bốn tinh tấn, hay Bốn chánh cần (Sanskrit: sayak-prahanani) để diệt trừ bất thiện pháp. 3. Niệm lực (念力, Sanskrit: smṛtibala): sức mạnh do sự hành trì Bốn niệm xứ mang lại, có thể phá được các tà niệm. 4. Định lực (定力, Sanskrit: samādhibala): sức mạnh do thiền định (Sanskrit: dhyāna) mang lại, loại bỏ được mọi tham ái. 5. Huệ lực (慧力, Sanskrit: prajñābala): sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến về Tứ diệu đế, phá tan được các lậu hoặc trong ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. 2 Bảy thánh giác (Thất thánh giác), cũng gọi là Thất giác chi, Thất giác ý (Sanskrit: saptabodhyaṅga): Gồm có: 1. Trạch pháp (擇法, Sanskrit: dharmapravicaya) 2. Tinh tấn (精進, Sanskrit: vīrya) 3. Hỷ (喜, Sanskrit: prīti) 4. Khinh an (輕安, Sanskrit: praśabdhi) 5. Niệm (念, Sanskrit: smṛti) 6. Định (定, Sanskrit: samādhi) 7. Xả (捨, Sanskrit: upekṣā) 3 Tám chánh đạo (Bát chánh đạo): Con đường mà người học Phật phải noi theo để đạt đến giải thoát, gồm 8 sự chân chánh như sau 1. Chánh kiến (正見, Pāli: sammā-diṭṭhi, Sanskrit: samyag-dṛṣṭi): có một quan niệm đúng đắn về Tứ diệu đế và giáo lí Vô ngã. 2. Chánh tư duy (正思唯, Pāli: sammā-saṅkappa, Sanskrit: samyaksaṃkalpa): suy nghĩ đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm. 3. Chánh ngữ (正語, Pāli: sammā-vācā, Sanskrit: samyag-vāc): nói lời chân chánh, không nói dối, không nói phù phiếm. 50
  • 49. Cõi Phật khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không có Ba ác, Tám nạn.1 Tự mình giữ giới hạnh, chẳng chê kẻ khác lỗi lầm là 4. Chánh nghiệp (正業, Pāli: sammā-kammanta, Sanskrit: samyakkarmānta): theo các nghiệp lành, chân chánh, tránh phạm vào giới luật. 5. Chánh mạng (正命, Pāli: sammā-ājīva, Sanskrit: samyag-ājīva): tránh các nghề nghiệp phải giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện... 6. Chánh tinh tấn (正精進, Pāli: sammā-vāyāma, Sanskrit: samyagvyāyāma): tinh cần phát triển điều thiện, diệt trừ điều ác. Pháp này bao gồm Tứ chánh cần. 7. Chánh niệm (正念, Sanskrit: samyag-smṛti, Pāli: sammā-sati): tỉnh giác trên cả ba hình thức thân, miệng và ý. 8. Chánh định (正定, Pāli: sammā-samādhi, Sanskrit: samyaksamādhi): tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian. 1 Ba ác, Tám nạn (Tam ác, Bát nạn): - Ba ác hay Ba đường ác là: 1. Địa ngục, 2. Súc sinh, 3. Ngạ quỷ. - Tám nạn (Sanskrit: ) là tám sự trở ngại, khó tu hành, cũng gồm cả Ba ác vừa kể. Tám nạn gồm có: 1. Địa ngục (地獄 Sanskrit: naraka). 2. Súc sinh (畜生, Sanskrit: tiryañc). 3. Ngạ quỉ (餓鬼, Sanskrit: pre­ a). t 4. Trường thọ thiên (長壽天, Sanskrit: dīr­ hā­ ur­ e­ a), là cõi trời g y d v thuộc sắc giới với thọ mạng kéo dài. Thọ mạng cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc, khiến dễ quên những nỗi khổ của sinh lão bệnh tử trong luân hồi. 5. Biên địa (邊地, Sanskrit: prat­ an­ ajanapāda), là những vùng y t không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học chánh pháp. 6. Căn khuyết (根缺, Sanskrit: indri­ avai­ alya), không có đủ giác y k quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, điếc... 7. Tà kiến (雅見, Sanskrit: mith­ ādarśana), những kiến giải sai y lệch, bất thiện. 8. Như Lai bất xuất sinh (如來不出生, Sanskrit: tathāga­ānām an­ t utpāda), nghĩa là sinh ra trong thời gian không có Phật hoặc giáo pháp của Ngài xuất hiện. 51
  • 50. Kinh Duy-ma-cật cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, cõi nước ấy không nghe đến chuyện phạm cấm. Mười điều thiện là cõi nước thanh tịnh của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, mạng sống không ngắn ngủi, chết yểu, những chúng sinh giàu có, giới hạnh trong sạch, nói lẽ thành thật, thường dùng lời êm ái, quyến thuộc chẳng chia lìa, khéo hòa việc tranh tụng, nói lời có ích, chẳng tham, chẳng sân, chẳng si sinh về nước ấy. Bảo Tích! Như vậy, Bồ Tát tùy lòng ngay thẳng mà khởi làm. Tùy chỗ khởi làm mà được lòng sâu vững. Tùy lòng sâu vững mà tâm ý được điều phục. Tùy chỗ điều phục tâm ý mà làm được theo đúng như thuyết dạy. Tùy chỗ làm theo đúng như thuyết dạy mà có thể hồi hướng. Tùy chỗ hồi hướng mà có sức phương tiện. Tùy sức phương tiện mà giúp cho chúng sinh được thành tựu. Tùy chỗ thành tựu cho chúng sinh mà được cõi Phật thanh tịnh. Tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Tùy chỗ thuyết pháp thanh tịnh mà trí huệ được thanh tịnh. Tùy trí huệ thanh tịnh mà tâm được thanh tịnh. Tùy tâm được thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh. Bảo Tích! Cho nên, nếu Bồ Tát muốn được cõi nước thanh tịnh hãy làm cho tâm thanh tịnh. Tùy tâm thanh tịnh, ắt cõi Phật thanh tịnh. Lúc ấy, nương oai thần của Phật, Xá-lỵ-phất có ý nghĩ này: “Nếu như tâm của Bồ Tát thanh tịnh, ắt cõi Phật 52
  • 51. Cõi Phật thanh tịnh. Như vậy, phải chăng đức Thế Tôn của chúng ta khi còn làm Bồ Tát tâm ý chẳng thanh tịnh nên cõi nước của ngài nay mới chẳng được thanh tịnh như thế này? Phật biết được ý nghĩ ấy, bảo Xá-lỵ-phất rằng: “Ý ngươi thế nào, mặt trời, mặt trăng há chẳng sáng hay sao mà kẻ mù chẳng thấy hai vầng ấy?” Xá-lỵ-phất thưa: “Thế Tôn! Chẳng phải vậy. Đó là lỗi ở kẻ mù, chẳng phải lỗi ở mặt trời, mặt trăng.” “Xá-lỵ-phất! Do tội của chúng sinh, nên họ chẳng thấy quốc độ của Như Lai trang nghiêm thanh tịnh, chẳng phải lỗi của Như Lai. Xá-lỵ-phất! Cõi đất này của ta là thanh tịnh, nhưng ngươi chẳng thấy được như vậy.” Lúc ấy, Phạm Vương Loa Kế bảo Xá-lỵ-phất: “Đừng nghĩ như vậy, cho rằng cõi Phật này là không thanh tịnh. Vì sao vậy? Ta thấy rằng cõi Phật của đức Thích-ca Mâu-ni là thanh tịnh như cung trời Tự tại.” Xá-lỵ-phất nói: “Tôi chỉ thấy cõi này toàn là gò nổng, hầm hố, gai gốc, sỏi sạn, núi đất, núi đá, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa.” Phạm Vương Loa Kế nói: “Lòng của nhân giả có cao thấp, chẳng y theo trí huệ Phật. Vậy nên ông thấy cõi này là không thanh tịnh. Xá-lỵ-phất! Bồ Tát giữ lẽ bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, lòng dạ sâu vững thanh tịnh, y theo trí huệ Phật, ắt thấy cõi Phật này là thanh tịnh.” 53
  • 52. Kinh Duy-ma-cật Lúc ấy, Phật dùng ngón chân mà nhấn xuống đất. Tức thời, cõi thế giới tam thiên đại thiên này được nghiêm sức bởi trăm ngàn thứ trân bảo, cũng giống như cõi vô lượng công đức trang nghiêm của đức Phật Bảo Trang Nghiêm. Tất cả đại chúng đều khen rằng: “Chưa từng có!” Và ai nấy đều tự thấy mình được ngồi trên tòa sen báu. Phật hỏi Xá-lỵ-phất: “Ngươi nhìn thấy cõi Phật trang nghiêm thanh tịnh rồi chứ?” Xá-lỵ-phất bạch rằng: “Dạ, Thế Tôn! Từ trước con chưa từng được thấy, chưa từng được nghe như thế này. Nay, quốc độ nghiêm tịnh của Phật đã hiện.” Phật bảo Xá-lỵ-phất: “Cõi Phật độ của ta thường thanh tịnh như vậy. Nhưng vì muốn độ những kẻ thấp kém ở đây, cho nên ta thị hiện ra cõi bất tịnh với mọi thứ nhơ xấu. “Ví như chư thiên cùng ăn cơm đựng trong chén bát quý báu, nhưng tùy theo phước đức của họ mà hình sắc của cơm có khác. Xá-lỵ-phất! Cũng vậy đó, nếu lòng người ta tịnh, liền thấy được những công đức trang nghiêm của cõi này.” Trong khi Phật hiện ra cõi nước trang nghiêm thanh tịnh, năm trăm chàng con nhà trưởng giả do Bảo Tích dẫn dắt đều đắc Vô sinh pháp nhẫn.1 Tám mươi bốn ngàn người 1 Vô sinh pháp nhẫn: Đức nhẫn nhục của người giác ngộ nhờ nhận ra được rằng: thật không có chúng sinh, thật không có các pháp, các chúng sinh (hữu tình) và các pháp (vô tình) vốn không sinh, không diệt. 54
  • 53. Cõi Phật trong hội đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồđề. Phật lấy ngón chân thần lên, thế giới liền trở lại như cũ. Ba mươi hai ngàn chư thiên và những người cầu Thanh văn thừa hiểu ra được rằng các pháp hữu vi là vô thường, liền xa trần cảnh, lìa cấu nhiễm, được Pháp nhãn tịnh.1 Tám ngàn vị tỳ-kheo chẳng thọ nạp các pháp, dứt phiền não rỉ chảy, tâm ý được giải thoát. Nhận thức như vậy, người tu không còn khởi lên sự buồn giận đối với chúng sinh phá hại mình, đối với các pháp ngăn trở mình. 1 Pháp nhãn tịnh hay Pháp nhãn (法眼; Sanskrit: dharmacakṣus): mắt pháp thanh tịnh, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu. Người tu Thanh văn thừa, khi đắc , thấy được trần thế là giả dối ô trược, bèn chán ngán sự đời mà vui với đạo lý, hướng đến Niết-bàn. Đắc Pháp nhãn tịnh cũng tức là đắc quả đầu tiên trong 4 thánh quả của Thanh văn thừa: quả Tu-đà-hoàn. Quả cao nhất là quả A-la-hán. Pháp nhãn tịnh hay Kiến pháp thanh tịnh cũng là địa vị đầu tiên trong Thập địa của Bồ Tát, gọi là Hoan hỷ địa. 55
  • 54. 方便品 第二 爾時毘耶離大城中有長者名維摩詰。已 曾供養無量諸佛深植善本。得無生忍。辯 才無礙。遊戲神通逮諸總持。獲無所畏。 降魔勞怨。入深法門。善於智度。通達方 便。大願成就。明了衆生心之所趣。又能 分別諸根利鈍。久於佛道心已純淑決定大 乘。諸有所作能善思量。住佛威儀心大如 海。諸佛咨嗟弟子。釋梵世主所敬。 欲度人故以善方便居毘耶離。資財無量 攝諸貧民。奉戒清淨攝諸毀禁。以忍調行 攝諸恚怒。以大精進攝諸懈怠。一心禪寂 攝諸亂意。以決定慧攝諸無智。 雖為白衣奉持沙門清淨律行。雖處居家 不著三界。示有妻子常修梵行。現有眷屬 常樂遠離。雖服寶飾而以相好嚴身。雖復 飲食而以禪悅為味。若至博弈戲處輒以度 人。受諸異道不毀正信。雖明世典常樂佛 56
  • 55. PHƯƠNG TIỆN PHẨM Đệ nhị Nhĩ thời, Tỳ-da-ly đại thành trung, hữu trưởng giả, danh Duy-ma-cật, dĩ tằng cúng dường vô lượng chư Phật, thâm thực thiện bổn, đắc vô sinh nhẫn, biện tài vô ngại, du hý thần thông, đãi chư tổng trì, hoạch vô sở úy, hàng ma lạo oán, nhập thâm pháp môn, thiện ư trí độ, thông đạt phương tiện, đại nguyện thành tựu, minh liễu chúng sinh tâm chi sở thú. Hựu năng phân biệt chư căn lợi độn. Cửu ư Phật đạo, tâm dĩ thuần thục, quyết định Đại thừa. Chư hữu sở tác, năng thiện tư lượng. Trụ Phật oai nghi, tâm đại như hải. Chư Phật tư ta, đệ tử Thích-phạm thế chủ sở kính. Dục độ nhân cố, dĩ thiện phương tiện, cư Tỳ-da-ly. Tư tài vô lượng, nhiếp chư bần dân. Phụng giới thanh tịnh, nhiếp chư hủy cấm. Dĩ nhẫn điều hạnh, nhiếp chư nhuế nộ. Dĩ đại tinh tấn, nhiếp chư giải đãi. Nhất tâm thiền tịch, nhiếp chư loạn ý. Dĩ quyết định huệ, nhiếp chư vô trí. Tuy vi bạch y, phụng trì sa-môn thanh tịnh luật hạnh. Tuy xử cư gia, bất trước Tam giới. Thị hữu thê tử, thường tu Phạm hạnh. Hiện hữu quyến thuộc thường nhạo viễn ly. Tuy phục bảo sức, nhi dĩ tướng hảo nghiêm thân. Tuy phục ẩm thực, nhi dĩ thiền duyệt vi vị. Nhược chí bát dịch hý xứ, triếp dĩ độ nhân. Thọ chư dị đạo, bất hủy chánh tín. Tuy 57
  • 56. 維摩詰所說經 法。一切見敬為供養中最。執持正法攝諸 長幼。一切治生諧偶雖獲俗利不以喜悅。 遊諸四衢饒益衆生。入治政法救護一切。 入講論處導以大乘。入諸學堂誘開童蒙。 入諸婬舍示欲之過。入諸酒肆能立其志。 若在長者長者中尊為說勝法。若在居 士居士中尊斷其貪著。若在剎利剎利中尊 教以忍辱。若在婆羅門婆羅門中尊除其我 慢。若在大臣大臣中尊教以正法。若在王 子王子中尊示以忠孝。若在內官內官中尊 化政宮女。若在庶民庶民中尊令興福力。 若在梵天梵天中尊誨以勝慧。若在帝釋帝 釋中尊示現無常。若在護世護世中尊護諸 衆生。 長者維摩詰。以如是等無量方便饒益衆 生。其以方便現身有疾。以其疾故。國王 大臣長者居士婆羅門等。及諸王子并餘官 屬。無數千人皆往問疾。其往者。維摩詰 因以身疾廣為說法。 58
  • 57. Duy-ma-cật sở thuyết kinh minh thế điển, thường nhạo Phật pháp. Nhất thiết kiến kính, vi cúng dường trung tối. Chấp trì Chánh pháp, nhiếp chư trưởng ấu. Nhất thiết trị sinh hài ngẫu, tuy hoạch tục lợi, bất dĩ hỷ duyệt. Du chư tứ cù, nhiêu ích chúng sinh. Nhập trị chánh pháp, cứu hộ nhất thiết. Nhập giảng luận xứ, đạo dĩ Đại thừa. Nhập chư học đường, dụ khai đồng mông. Nhập chư dâm xá, thị dục chi quá. Nhập chư tửu tứ, năng lập kỳ chí. Nhược tại trưởng giả, trưởng giả trung tôn, vị thuyết thắng pháp. Nhược tại cư sĩ, cư sĩ trung tôn, đoạn kỳ tham trước. Nhược tại sát-lỵ, sát-lỵ trung tôn, giáo dĩ nhẫn nhục. Nhược tại bà-la-môn, bà-la-môn trung tôn, trừ kỳ ngã mạn. Nhược tại đại thần, đại thần trung tôn, giáo dĩ Chánh pháp. Nhược tại vương tử, vương tử trung tôn, thị dĩ trung hiếu. Nhược tại nội quan, nội quan trung tôn, hóa chánh cung nữ. Nhược tại thứ dân, thứ dân trung tôn, linh hưng phước lực. Nhược tại Phạm thiên, Phạm thiên trung tôn, hối dĩ thắng huệ. Nhược tại Đế-thích, Đế-thích trung tôn, thị hiện vô thường. Nhược tại hộ thế, hộ thế trung tôn, hộ chư chúng sinh. Trưởng giả Duy-ma-cật dĩ như thị đẳng vô lượng phương tiện, nhiêu ích chúng sinh. Kỳ dĩ phương tiện, hiện thân hữu tật. Dĩ kỳ tật cố, quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn đẳng, cập chư vương tử, tinh dư quan thuộc, vô số thiên nhân, giai vãng vấn tật. Kỳ vãng giả, Duy-ma-cật nhân dĩ thân tật, quảng vị thuyết pháp: 59
  • 58. 維摩詰所說經 諸仁者。是身無常無強無力無堅。速朽 之法不可信也。為苦為惱衆病所集。 諸仁者。如此身明智者所不怙。是身如 聚沫不可撮摩。是身如泡不得久立。是身 如燄從渴愛生。是身如芭蕉中無有堅。是 身如幻從顛倒起。是身如夢為虛妄見。是 身如影從業緣現。是身如響屬諸因緣。是 身如浮雲須臾變滅。是身如電念念不住。 是身無主為如地。是身無我為如火。是身 無壽為如風。是身無人為如水。是身不實 四大為家。是身為空離我我所。是身無知 如草木瓦礫。是身無作風力所轉。是身不 淨穢惡充滿。是身為虛偽。雖假以澡浴衣 食必歸磨滅。是身為災百一病惱。是身如 丘井為老所逼。是身無定為要當死。是身 如毒蛇如怨賊如空聚。陰入諸界所共合 成。 諸仁者。此可患厭當樂佛身。所以者 何。佛身者即法身也。從無量功德智慧 生。從戒定慧解脫解脫知見生。從慈悲 喜捨生。從布施持戒忍辱柔和勤行精進禪 60
  • 59. Duy-ma-cật sở thuyết kinh Chư nhân giả! Thị thân vô thường, vô cường, vô lực, vô kiên. Tốc hủ chi pháp, bất khả tín dã. Vi khổ, vi não, chúng bệnh sở tập. Chư nhân giả! Như thử thân, minh trí giả sở bất hỗ. Thị thân như tụ mạt, bất khả toát ma. Thị thân như bào, bất đắc cửu lập. Thị thân như diệm, tùng khát ái sinh. Thị thân như ba tiêu, trung vô sở kiên. Thị thân như ảo, tùng điên đảo khởi. Thị thân như mộng, vi hư vọng kiến. Thị thân như ảnh, tùng nghiệp duyên hiện. Thị thân như hưởng, thuộc chư nhân duyên. Thị thân như phù vân, tu du biến diệt. Thị thân như điện, niệm niệm bất trụ. Thị thân vô chủ, vi như địa. Thị thân vô ngã, vi như hỏa. Thị thân vô thọ, vi như phong. Thị thân vô nhân, vi như thủy, Thị thân bất thật, tứ đại vi gia. Thị thân vi không, ly ngã, ngã sở. Thị thân vô tri, như thảo mộc ngõa lịch. Thị thân vô tác, phong lực sở chuyển. Thị thân bất tịnh, uế ác sung mãn. Thị thân vi hư ngụy, tuy giả dĩ tảo dục y thực, tất quy ma diệt Thị thân vi tai, bá nhất bệnh não. Thị thân như khưu tỉnh, vi lão sở bức. Thị thân vô định, vi yếu đương tử. Thị thân như độc xà, như oán tặc, như không tụ, ấm, nhập, chư giới sở cộng hiệp thành. Chư nhân giả! Thử khả hoạn yếm, đương nhạo Phật thân. Sở dĩ giả hà? Phật thân giả, tức Pháp thân dã. Tùng vô lượng công đức trí huệ sinh. Tùng giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến sinh. Tùng từ, bi, hỷ, xả sinh. Tùng bố thí, trì giới, nhẫn nhục, nhu hòa, cần hành tinh tấn, thiền định giải thoát Tam-muội, đa văn trí huệ, chư 61
  • 60. 維摩詰所說經 定解脫三昧多聞智慧諸波羅密生。從方便 生。從六通生。從三明生。從三十七道品 生。從止觀生。從十力四無所畏十八不共 法生。從斷一切不善法集一切善法生。從 真實生。從不放逸生。從如是無量清淨法 生如來身。 諸仁者。欲得佛身斷一切衆生病者。當 發阿耨多羅三藐三菩提心。 如是長者維摩詰。為諸問病者如應說 法。令無數千人皆發阿耨多羅三藐三菩提 心。 62
  • 61. Duy-ma-cật sở thuyết kinh ba-la-mật sinh. Tùng phương tiện sinh. Tùng lục thông sinh. Tùng tam minh sinh. Tùng tam thập thất đạo phẩm sinh. Tùng chỉ quán sinh. Tùng thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp sinh. Tùng đoạn nhất thiết bất thiện pháp, tập nhất thiết thiện pháp sinh. Tùng chân thật sinh. Tùng bất phóng dật sinh. Tùng như thị vô lượng thanh tịnh pháp sinh Như Lai thân. Chư nhân giả! Dục đắc Phật thân đoạn nhất thiết chúng sinh bệnh giả, đương phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm. Như thị Trưởng giả Duy-ma-cật, vị chư vấn bệnh giả, như ưng thuyết pháp, linh vô số thiên nhân giai phát A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề tâm. 63
  • 62. Phẩm thứ hai PHƯƠNG TIỆN L úc ấy, trong thành lớn Tỳ-da-ly có một vị trưởng giả tên là Duy-ma-cật. Ấy là người đã từng cúng dường vô lượng các đức Phật, trồng sâu căn lành; được đức nhẫn vô sinh, biện tài vô ngại, du hí thần thông, nắm được các phép tổng trì, đạt được pháp vô sở úy;1 hàng phục chúng ma, vỗ về những kẻ oán hờn; đã vào được pháp môn sâu xa vi diệu, giỏi về phép trí huệ,2 thông đạt phương tiện; thành tựu nguyện lớn, biết rõ chỗ xu hướng trong tâm của mỗi chúng sinh, phân biệt được những căn tánh lanh lợi hoặc chậm lụt. Đối với đạo Phật, từ lâu trong tâm ngài đã thuần thục, chí quyết về Đại thừa. Mỗi khi làm việc chi, ngài đều khéo suy xét, liệu lường. Ngài trụ nơi oai nghi của Phật, lòng dạ rộng lớn như biển cả. Chư Phật 1 Vô sở úy: không gì có thể làm cho sợ sệt. Vị đã chứng được pháp này có thể an nhiên vững vàng đối với tất cả các pháp không hề sinh tâm sợ sệt. Có 4 pháp vô sở úy của Phật và 4 pháp vô sở úy của hàng Bồ Tát. Ở đây chỉ các pháp vô sở úy của hàng Bồ Tát, đó là: 1. Tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy 2. Tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy 3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy 4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy 2 Trí độ (Sanskrit: prajñāparamitā), dịch âm là Bát-nhã ba-la-mật-đa, viết đủ là Trí huệ độ, là hạnh thứ sáu trong sáu hạnh của Bồ Tát (Lục Bala-mật). 64
  • 63. Phương tiện khen ngợi, những đệ tử là Đế-thích và Phạm vương, chúa cõi thế giới đều kính trọng ngài. Vì muốn cứu độ chúng nhân nên ngài dùng phương tiện khéo cư ngụ tại thành Tỳ-da-ly. Dùng tài sản nhiều không kể xiết, ngài nhiếp phục những kẻ nghèo; dùng giới luật thanh tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ phạm giới cấm; dùng nhẫn nhục nhu hòa,1 ngài nhiếp phục những kẻ hay nóng giận; dùng sức tinh tấn mạnh mẽ, ngài nhiếp phục những kẻ lười nhác, giải đãi; dùng nhất tâm thiền tịnh, ngài nhiếp phục những kẻ tâm ý tán loạn; dùng trí huệ chắc quyết, ngài nhiếp phục những kẻ vô trí. Tuy là cư sĩ,2 nhưng ngài kính giữ luật hạnh thanh tịnh của bậc sa-môn. Tuy ở tại nhà, nhưng ngài chẳng vướng vào ba cõi. Thị hiện có vợ con, nhưng ngài thường tu hạnh thanh tịnh.3 Thị hiện có quyến thuộc, nhưng ngài thường thích rời xa. Tuy phục sức đồ quý báu nhưng ngài cốt dùng các tướng tốt để trang nghiêm thân mình. Tuy vẫn ăn uống, nhưng ngài lấy niềm vui hành thiền làm món ăn ngon. Nếu có đến nơi cờ bạc, ngài dùng nơi đó để hóa độ người. Mặc dầu thọ học đạo khác, ngài chẳng chê bỏ chánh tín. Tuy hiểu rành sách vở thế gian, nhưng ngài thường hâm mộ pháp Phật. Thấy ai ngài cũng kính nhường, lấy sự cúng 1 Nhẫn điều hạnh (忍調行 Sanskrit: sauratya-kṣānti): hạnh nhẫn nhục nhu hòa. 2 Nguyên văn dùng bạch y (áo trắng), chỉ người đệ tử Phật tu tại gia, tức là cư sĩ, phân biệt với hàng xuất gia mặc áo vàng hay áo hoại sắc. 3 Phạm hạnh (Sanskrit: Brahmacarya, Pāli: Brahmacariya) hay Tịnh hạnh, là hạnh tu trong sạch, ý nói xa lìa sự dâm dục. 65
  • 64. Kinh Duy-ma-cật dường làm trọng. Nắm giữ Chánh pháp, ngài nhiếp phục được kẻ lớn người nhỏ. Trong mọi cuộc cộng tác làm ăn, mặc dầu thu được những món lợi thế tục, nhưng ngài không lấy đó làm vui. Dạo chơi nơi ngả tư đường, ngài thường giúp ích cho chúng sinh. Dự vào việc chính trị, ngài cứu hộ tất cả nhân dân. Vào nơi giảng luận, ngài đem Đại thừa mà dắt dẫn người nghe. Vào chốn học đường, ngài khuyến dụ và khai hóa trẻ em. Vào chốn lầu xanh, ngài chỉ rõ chỗ tội lỗi của sắc dục. Vào các quán rượu, ngài lập chí hướng thiện cho những người ở đó. Nếu ở tại nhóm trưởng giả,1 ngài được tôn trọng, bèn nói pháp cao trổi cho họ nghe. Nếu ở tại nhóm cư sĩ, ngài được tôn trọng, bèn dứt mối tham trước của họ. Nếu ở tại nhóm sát-lỵ, ngài được tôn trọng, bèn đem pháp nhẫn nhục mà giáo hóa họ. Nếu ở tại nhóm bà-la-môn, ngài được tôn trọng, bèn dứt trừ lòng ngã mạn2 của họ. Nếu ở tại nhóm đại thần, ngài được tôn trọng, bèn đem phép chính trị mà chỉ dạy cho họ. Nếu ở tại nhóm vương tử, ngài được tôn trọng, bèn chỉ cho họ nết trung nết hiếu. Nếu ở tại nhóm 1 Trưởng giả, thủ-đà-la, sát-lỵ và bà-la-môn là bốn giai cấp ở Ấn độ, theo thứ tự dưới đây: a) Bà-la-môn (Sanskrit: brāhmana): hàng tu sĩ, các bậc thầy giữ việc cúng tế. b) Sát-lỵ hay sát-đế-lỵ (Sanskrit: kṣatriya): hàng vua chúa, quan tướng c) Trưởng giả, hay phệ-xá (Sanskrit: vaiśya), hàng thương nhân giàu có d) Thủ-đà-la (Sanskrit: sudra), những người làm ruộng, làm các nghề bình thường 2 Ngã mạn: tự cao, kiêu căng, luôn tự cho mình là tài giỏi hoặc cao quý hơn kẻ khác. 66
  • 65. Phương tiện nội quan,1 ngài được tôn trọng, bèn dạy bảo cho các cung nữ trở nên chính trực. Nếu ở trong hàng dân dã, ngài được tôn trọng, liền khiến cho phước lực của họ được hưng thạnh. Nếu ở tại cảnh Phạm thiên, ngài được các vị Phạm thiên tôn trọng, liền giáo hóa các vị này về pháp trí huệ thắng diệu. Nếu ở tại cảnh trời Đế-thích, ngài được chư thiên cảnh trời Đế-thích tôn trọng, liền thị hiện cuộc vô thường bại hoại. Nếu ở cảnh trời Hộ thế, ngài được bốn vị Thiên vương Hộ thế tôn trọng, liền phò hộ chúng sinh. Trưởng giả Duy-ma-cật dùng vô số các phương tiện như vậy mà giúp ích cho chúng sinh. Người cũng dùng phương tiện hiện ra thân mình có bệnh. Vì người đang bệnh, nên các hàng quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn cùng các vương tử quan thuộc, vô số ngàn người đều đến thăm hỏi bệnh người. Với những người đến thăm ấy, Duy-ma-cật nhân việc thân có bệnh mà thuyết pháp rộng rãi với họ: “Các nhân giả! Thân này là không thường tồn, không có sức mạnh, không bền chắc. Nó là vật mau hư hoại, không thể tin vào nó được. Nó là khổ, là não, các bệnh đều tụ tập vào nó. “Các nhân giả! Như cái thân này đây, bậc minh trí không nương cậy vào nó được. Thân này như bọt đọng mà người ta không thể sờ nắm. Thân này như bọt nổi, không tồn tại lâu dài. Thân này như nháng lửa, nó do sự khát 1 Nội quan: các vị quan cao niên có nhiều đức độ được tuyển vào trong nội cung của vua để dạy dỗ, cai quản các cung nữ, khác với nội quan ở Trung Hoa là các thái giám. 67
  • 66. Kinh Duy-ma-cật khao ái dục mà sinh ra. Thân này như cây chuối, bên trong chẳng bền chắc gì. Thân này như món đồ ảo thuật, do nơi sự xáo trộn mà khởi ra. Thân này như chiêm bao, thấy nó là hư vọng chẳng thật. Thân này như cái bóng, nó theo nghiệp duyên mà hiện ra. Thân này như tiếng dội, nó phụ thuộc các nhân duyên. Thân này như mây nổi, trong phút chốc đã biến mất. Thân này như tia chớp, chẳng ở yên một phút nào! “Thân này không chủ, cũng như đất. Thân này không phải ta, cũng như lửa. Thân này không sống lâu, cũng như gió. Thân này không phải người, cũng như nước. Thân này chẳng thật, nó lấy bốn đại: đất, nước, lửa, gió làm nhà. Thân này là trống không, nó lìa ta và vật của ta. Thân này không biết chi hết; nó như cỏ, cây, gạch, sỏi. Thân này không làm gì hết, nó bị sức gió chuyển dời. Thân này là bất tịnh, dẫy đầy mọi nhơ nhớp xấu xa. Thân này là hư ngụy, dẫu nó có tạm dùng những việc tắm, rửa, ăn mặc, nhưng rồi nó cũng mòn dứt mà thôi! Thân này là tai hại, mang lấy một trăm lẻ một bệnh não.1 Thân này như gò đất, giếng nước, nó bị cái già hiếp bức. Thân này không kiên định, có ngày phải chết. Thân này như rắn độc, như kẻ cướp oán thù, như xóm nhà không người, các ấm, nhập, giới2 phối hợp mà làm thành cái thân. 1 Một trăm lẻ một bệnh não (bá nhất bệnh não): thân người ta hợp bởi bốn đại (tứ đại): đất, nước, lửa, gió (địa, thủy, hỏa, phong). Nếu một trong bốn đại gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 101 bệnh não. Nếu cả bốn đại đều gia tăng hoặc tổn giảm thì sinh ra 404 bệnh não. Đây đều là những cách nói tượng trưng để biểu thị là có rất nhiều bệnh não. 1 Các ấm, nhập, giới bao gồm: a) Ấm: gồm năm ấm (ngũ ấm hay ngũ uẩn) là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. 68
  • 67. Phương tiện “Các nhân giả! Thân này đáng lo, đáng chán, mà nên ưa thích thân Phật. Tại sao vậy? Thân Phật tức là Pháp thân, do vô lượng cúng dường trí huệ mà sinh ra; do các pháp: giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến mà sinh ra; do những đức từ, bi, hỷ, xả mà sinh ra; do các ba-la-mật là bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ mà sinh ra; do phương tiện mà sinh ra; do sáu thần thông2 mà sinh b) Nhập: có mười hai nhập là sáu căn nhập với sáu trần. Sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý), sáu trần là: hình sắc, âm thanh, hương, vị, xúc chạm, các pháp (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). c) Giới: gồm mười tám giới, sáu căn bên trong, sáu trần bên ngoài, sáu thức ở giữa. Như nhãn căn, sắc trần và nhãn thức cùng hợp lại sinh ra sự thấy biết... 2 Sáu thông (Lục thông hay Lục thần thông 六神通, Sanskrit: ṣaḍ abhijñāḥ) là sáu phép thần thông tự tại của Phật. Đó là: 1. Thần cảnh thông (神境通), cũng còn gọi là Thân thông (身通), Thân như ý thông (身如意通), Thần túc thông (神足通). 2. Thiên nhãn thông (天眼通): có thể nhìn thấy toàn bộ tiến trình lưu chuyển của chúng sinh qua 6 cõi luân hồi. 3. Thiên nhĩ thông (天耳通): có thể nghe được toàn thể những tiếng khổ vui mà chúng sinh trải qua trong 6 cõi luân hồi. 4. Tha tâm thông (他心通): năng lực nhận biết tâm niệm của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi. 5. Túc mạng thông (宿命通): còn gọi là Túc trú thông (宿住通): năng lực nhận biết mọi sự việc xảy ra trong vô lượng kiếp trước mà chúng sinh đã trải qua, cũng như biết được toàn bộ thọ mạng của chúng sinh trong trong 6 cõi luân hồi. 6. Lậu tận thông (漏盡通): năng lực chuyển hoá toàn bộ phiền não trong ba cõi, nên không còn là đối tượng của sinh diệt trong ba cõi nữa. Trong các phép thần thông kể trên, phép thứ 2, thứ 5 và thứ 6 cũng chính là Tam minh (三明). 69
  • 68. Kinh Duy-ma-cật ra; do ba minh3 mà sinh ra; do ba mươi bảy phẩm trợ đạo mà sinh ra; do chỉ quán mà sinh ra; do mười sức, bốn vô sở úy,4 mười tám pháp bất cộng mà sinh ra; do việc cắt đứt tất cả các pháp chẳng lành, nhóm họp tất cả các pháp lành mà sinh ra; do chân thật mà sinh ra; do chẳng phóng dật mà sinh ra. Do vô lượng pháp thanh tịnh như vậy mà thân Như Lai sinh ra. 1 Ba minh (Tam minh 三明, Sanskrit: tisrovidyā): Ba trí sáng suốt của bậc giác ngộ, cũng chính là ba năng lực thần thông được kể trong Lục thông. Ba trí sáng suốt ấy là: 1. Thiên nhãn minh (天眼明; Sanskrit: divyācakṣurjñānasākṣatkriy­ āvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, biết được việc sinh tử của mình và của người khác trong đời vị lai. Cũng gọi là Sinh tử trí chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Thiên nhãn thông. 2. Túc mệnh minh (宿命明; Sanskrit: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sāk­ ṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú minh (宿住明), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi, biết được việc sinh tử của mình và của người khác trong những đời đã qua. Cũng gọi là Tục trụ trí chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Túc mạng thông. 3. Lậu tận minh (漏盡明; Sanskrit: āśravakṣayajñānasākṣatkriyā­ vidyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu 70
  • 69. Phương tiện “Các nhân giả! Muốn được thân Phật dứt hết các bệnh của chúng sinh, nên phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề.” Trưởng giả Duy-ma-cật thuyết pháp như vậy với những người thăm bệnh, khiến cho vô số ngàn người đều phát tâm A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề. hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới, biết được khổ tướng trong hiện tại, dứt trừ được mọi phiền não. Cũng gọi là Lậu tận trí chứng minh. Người có trí sáng suốt này cũng gọi là chứng đắc Lậu tận thông. 2 Tứ vô sở úy四無所畏 (bốn đức chẳng sợ) (Sanskrit: catur-vaiśaradya; Pāli: catuvesārajja), cũng gọi là Tứ vô úy (四無畏). Có 4 vô sở úy của Phật và 4 vô sở úy của các vị Bồ Tát. a) Bốn đức vô úy của Phật là: 1. Nhất thiết trí vô sở úy 2. Lậu tận vô sở úy 3. Thuyết chướng đạo vô sở úy 4. Thuyết tận khổ đạo vô sở úy b) Bốn đức vô úy của các vị Bồ Tát: 1. Tổng trì bất vong, thuyết pháp vô úy 2. Tận tri pháp dược cập tri chúng sinh căn dục tánh tâm, thuyết pháp vô úy 3. Thiện năng vấn đáp, thuyết pháp vô úy 4. Năng đoạn vật nghi, thuyết pháp vô úy 71
  • 70. 弟子品 第三 爾時長者維摩詰自念。寢疾於牀。世尊 大慈寧不垂愍。 佛知其意。即告舍利弗。汝行詣維摩詰 問疾。 舍利弗白佛言。世尊。我不堪任詣彼 問疾。所以者何。憶念我昔曾於林中宴坐 樹下。時維摩詰來謂我言。唯舍利弗。不 必是坐為宴坐也。夫宴坐者。不於三界現 身意。是為宴坐。不起滅定而現諸威儀。 是為宴坐。不捨道法而現凡夫事。是為宴 坐。心不住內亦不在外。是為宴坐。於諸 見不動而修行三十七品。是為宴坐。不斷 煩惱而入涅槃。是為宴坐。若能如是坐 者。佛所印可。 時我世尊。聞說是語默然而止不能加 報。故我不任詣彼問疾。 佛告大目犍連。汝行詣維摩詰問疾。 72

Related Documents