TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH Tế NGOạI THươNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPNÂNG CAO NĂNG LỰC...
pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành 181.4.2 Mô hình đánh giánăng lực cạnh tranh của ngành mía đường 20 ...
Nhóm các chính sách khác 723.3 Nhóm giải pháp Vi mô nâng cao năng lực cạnh tranh ...
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắtADB : Ngân hàng phát triển ChâuáAFTA : Khu vực mậu dịch tự do A...
Mở đầuTrong thời đại mà công nghệ thông tin và giao thông khiến cho thế giớicó vẻ nhỏ đi, các doanh nghiệp, các ngành công...
tếĐối tượng và phạm vi nghiên cứu xuyên suốt khóa luận là Năng lực cạnhtranh quốc tế của ngành mía đường Việt Nam trong gi...
Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 ...
và phát triển 14 nước ven ấn Độ Dương… ở cấp độ thấp hơn, các tổ chức tiểuvùng, khu vực và liên khu vực, các mối liên kết ...
xuất và điều hành kinh tế trong nước, không ngừng nâng cao năng lực cạnhtranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở k...
Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 ...
và chi phí nhất định luôn đi kèm với các luồng vốn như những biến động tàichính, nguy cơ mất ổn định hệ thống, khả năng bi...
Cho đến nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp được 12-13% GDP, 20% kim ngạch xuất khẩu, 30% giá trị s...
có 10 nước thành viên sang môi trường gồm 21 nước của khu vực Châu á-TháiBình Dương, Việt Nam đã có một bước chuyển mình đ...
động xúc tiến đầu tư (IPAP)…Đàm phán gia nhập WTOTổ chức thương mại thếgiới (WTO) là một tổ chức quốc tế lớn mang quy mô t...
có một lộ trình mở cửa thích hợp cho từng lĩnh vực. Tóm lại, hội nhập kinh tếquốc tế là một tất yếu khách quan và hội nhập...
quan, hàng rào phi thuế quan, về trợ cấp trong nước hay hỗ trợ xuất khẩu của tổchức này. Tuy nhiên, do là một nước đang ph...
bảo hộ mạnh từ phía chính phủ. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối vớingành mía đường Việt Nam trong quá trình hội nh...
tranh khốc liệt từ các đối thủ nước ngoài ngay tại thị trường Việt Nam, chưa nóiđến cạnh tranh trên thị trường khu vực và ...
so sánh cùng những yếu kém của mình để hoàn thiện và phát triển. Như vậy,cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng...
cạnh tranh này thường được phân tích lồng ghép với phân tích cạnh tranh củangành/doanh nghiệp.Ba cấp độ năng lực cạnh tran...
pháp này là đưa ra được những phân tích mang tính định lượng để đánh giánăng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, về mặt thực tế, ph...
thân ngành đó. 1.4.2 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành míađường Việt Nam Xuất phát từ kết luận trên, tác giả ...
là một đặc trưng riêng biệt của nguồn nhân lực ngành và có vai trò quyết địnhđến chất lượng mía nguyên liệu cung cấp cho c...
thị trường thế giới. Trong đó, thị trường trong nước được chia thành 2 mảnglớn, thị trường tiêu dùng đường trực tiếp và th...
Môi trường cơ chế, chính sách là yếu tố bên ngoài có tác động lớn nhất đến khảnăng phát triển và cạnh tranh của ngành. Môi...
Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 Fo...
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI ...
Sau 5 năm thực hiện Chương trình mía đường, diện tích cả nước đã đạt 350.000ha, tăng 134% so với năm 1994. Năng suất bình ...
Hạn chếQuy hoạch một số nhà máy và vùng nguyên liệu thiếu chuẩn xác. Quy hoạchvùng nguyên liệu cho các nhà máy không chặt ...
Như vậy, đáng lẽ nguồn nguyên liệu phải là một lợi thế của ngành mía đường,nhưng hiện nay, nó đang là một yếu tố làm giảm ...
mỗi năm từ 100.000 đến 110.000 ha, do vậy sẽ cần khoảng 0.8-1 triệu tấn giốngnhưng nguồn cung cấp trong nước mỗi năm chỉ đ...
loại trung bình của thế giới và phù hợp với các vùng nguyên liệu mía quy môvừa và nhỏ, vùng sâu, vùng xa. Phần lớn thiết b...
Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 ...
và khó thay đổi tư duy, tác phong làm việc theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, nhất là ở tầng lớp nông dân.Đại bộ phậ...
Quy mô các nhà máy chế biến thể hiện khả năng kinh tế theo quy mô của ngành.Hơn thế, khi quy mô của toàn ngành là lớn thì ...
nhà máy đều còn non trẻ với công suất hoạt động chưa cao. Từ nay cho đến năm2006 là một khoảng thời gian không dài để các ...
La Ngà 98% Cam Ranh 32%Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất mía đường vụ 2002-20...
2000, với mức sản xuất công nghiệp giảm 15%. Lý do là vụ sản xuất 2001 diễnra trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn. Giá mía v...
khu vực sản xuất thủ công, tiến tới giảm dần sản lượng đường thủ công để pháthuy hiệu quả sản xuất đường công nghiệp.Ngoài...
niên vụ 2002-2003 là 50.600 tấn. Như vậy, có thể khẳng định rằng sản phẩmđường Việt Nam có khả năng cạnh tranh với các sản...
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533
of 91

Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533

Published on: Mar 3, 2016
Source: www.slideshare.net


Transcripts - Nang cao nang_luc_canh_tranh_mia_duong_viet_nam_4533

  • 1. TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA KINH Tế NGOạI THươNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPNÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH MÍA ĐƯỜNGVIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ:THỰCTRẠNG VÀ GIẢI PHÁPGiáo viên hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn PhúcKhanhSinh viên thực hiện : Phùng Nguyệt Minh Lớp : A13- K38 Hà Nội - 2003Mục lục TrangMở đầu 1Chương 1: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế củaViệt Nam và 3mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành míađường1.1 Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam 31.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế – Xu thế tất yếu đối với Việt Nam 31.1.2 Đặc trưng cơ bản của tiến trình hội nhập 51.1.3 Những kết quả ban đầu của Việt Nam trong tiến trình hội 8 nhập vào khu vực và thế giới.1.2 Tác động của hội nhậpkinh tế quốc tế đến ngành mía đường 121.2.1 Lộ trình cam kết 121.2.2 Các tác động 131.3 Khái niệm về cạnh tranh và nănglực cạnh tranh 151.3.1 Khái niệm về cạnh tranh 151.3.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh 161.4 Xây dựng mô hình đánh giá năng lựccạnh tranh của ngành 18 mía đường Việt Nam1.4.1 Các phương 1
  • 2. pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của một ngành 181.4.2 Mô hình đánh giánăng lực cạnh tranh của ngành mía đường 20 Việt Nam Chương 2: Đánhgiá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành mía 26đường Việt Nam bằng môhình trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Năng lực sản xuất 262.1.1 Điều kiện sản xuất 262.1.2 Kết quả năng lực sản xuất 332.2 Thị trường tiêu thụ 452.2.1 Thị trường trong nước 452.2.2 Thị trường thế giới 482.3 Đối thủ cạnh tranh và sản phẩm bổ sung, thay thế 502.3.1 Đối thủ cạnh tranh 502.3.2 Sản phẩm bổ sung, thay thế 542.4 Các ngành hỗ trợ, liên quan 572.4.1 Các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm sau đường 572.4.2 Các ngành liên quan đến cơ sở hạ tầng 582.5 Môi trường cơ chế, chính sách 592.5.1 Những thuận lợi 592.5.2 Các hạn chế 60Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành mía 64đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế3.1 Các địnhhướng lớn của ngành mía đường Việt Nam trong quá 64trình hội nhập kinhtế quốc tế 3.1.1 Định hướng hội nhập 643.1.2 Định hướng phát triển 663.1.3 Định hướng cạnh tranh 673.2 Nhóm giải pháp Vĩ mô nâng cao năng lực cạnh tranh củangành 69mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế3.2.1 Nhóm giải pháp về Khung khổ pháp lý 693.2.2 Nhóm giải pháp về Chính sách giá cả 703.2.3 Nhóm giải pháp về Chính sách tài chính 713.2.4 2
  • 3. Nhóm các chính sách khác 723.3 Nhóm giải pháp Vi mô nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành 74mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế 3.3.1 Nhóm giải pháp về Nguyên liệu và Kỹ thuật canh tác 743.3.2 Nhóm giải pháp về Chất lượng và Sản phẩm 763.3.3 Nhóm giải pháp về Giá cả 793.3.4 Nhóm giải pháp về Thị trường 80 3.3.5 Nhóm các giải pháp khác 82 Kếtluận 84 3
  • 4. Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắtADB : Ngân hàng phát triển ChâuáAFTA : Khu vực mậu dịch tự do ASEAN APEC : Diễnđàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình DươngASEAN : Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam áASEM : Diễn đàn hợp tác á - ÂuBTA :Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ CEPT : Hiệp định thuế quanưu đãi có hiệu lực chung ASEANHHMĐVN : Hiệp hội mía đường Việt NamIMF : Quỹ tiền tệ quốc tế WB : Ngân hàng thế giới WTO : Tổ chức thương mại thế giới 4
  • 5. Mở đầuTrong thời đại mà công nghệ thông tin và giao thông khiến cho thế giớicó vẻ nhỏ đi, các doanh nghiệp, các ngành công nghiệp và thậm chí các Chínhphủ cũng phải học để có thể cạnh tranh và hội nhập với nền kinh tế thế giới.Việt Nam là một quốc gia còn nhiều hạn chế về tiềm lực kinh tế song Việt Namxác định không thể đứng ngoài xu thế tất yếu của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế. Vấn đề đặt ra là hội nhập với lộ trình như thế nào và mức độ ra sao đểcác ngành có quy mô, trình độ khác nhau, có năng lực cạnh tranh và lợi thế sosánh khác nhau vẫn có thể vượt qua những thách thức và tận dụng được nhữngcơ hội do hội nhập đem lại.Ngành mía đường Việt Nam đã thực sự phát triểnsau khi Chương trình mía đường ra đời vào năm 1995 với mục tiêu sản xuất 1triệu tấn đường thay thế nhập khẩu. Từ đó tới nay, mục tiêu về sản lượng đãhoàn thành. Song một nghịch lý đang tồn tại là ngành mía đường tuy có nhiềulợi thế về đất đai, khí hậu, nguồn lực vậy mà giá đường sản xuất trong nước vẫnquá cao, năng suất công nghiệp thấp, chất lượng hạn chế, mía nguyên liệu lúcthiếu lúc thừa, các nhà máy lỗ nhiều hơn lãi, đường nhập lậu tràn lan trên thịtrường… Trong khi đó, lộ trình cắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quantheo cam kết hội nhập AFTA đang đến rất gần. Nguy cơ bị cạnh tranh gay gắt từcác đối thủ trong khu vực và thế giới đã hiển hiện. Vậy thực trạng năng lực cạnhtranh của ngành mía đường Việt Nam hiện nay ra sao? Ngành mía đường cầnlàm gì để có thể tự cứu sống mình và vươn lên cạnh tranh thắng lợi trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế ? Trước những câu hỏi bức súc đó, tác giả đãmạnh dạn chọn đề tài khóa luận của mình là: “Nâng cao năng lực cạnh tranhcủa ngành mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế: Thựctrạng và giải pháp”Kết cấu khóa luận được chia thành 3 phần lớn:Chương 1: Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và mô hình đánh giánăng lực cạnh tranh của ngành mía đườngChương 2: Đánh giá thực trạngnăng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam bằng mô hình trong quátrình hội nhập kinh tế quốc tế Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh của ngành mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc 5
  • 6. tếĐối tượng và phạm vi nghiên cứu xuyên suốt khóa luận là Năng lực cạnhtranh quốc tế của ngành mía đường Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1995 đếnnay. Với nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu bước đầu của mình, tác giả hy vọng có thểlàm sáng tỏ những câu hỏi lớn đang đặt ra về năng lực cạnh tranh của ngànhcũng như góp một tiếng nói nhỏ vào yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh củangành mía đường Việt Nam trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Tác giả xintrân trọng cảm ơn Thầy giáo – Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phúc Khanh về sựhướng dẫn hết sức tận tình và quý báu đối với tác giả trong suốt quá trình hoànthành khóa luận. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáoTrường Đại học Ngoại Thương, gia đình và những người bạn đã giúp đỡ tác giảtrong thời gian qua. 6
  • 7. Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 For Evaluation Only.Chương 1Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và mô hình đánh giánăng lực cạnh tranh củangành mía đường1.1 Quá trình hội nhập kinh tếquốc tế của Việt Nam 1.1.1 Hội nhập kinh tế quốc tế – Xu thế tất yếu đối vớiViệt Nam Hội nhập là một yếu tố khách quan, phù hợp với xu thế chungNgàynay, toàn cầu hóa và khu vực hóa kinh tế đã trở thành một xu thế chủ yếu trongquan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Mỗi quốc gia, dù lớn hay nhỏ, dù đang pháttriển hay phát triển, đều đang điều chỉnh chính sách của mình theo hướng mởcửa, giảm dần và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan, phi thuế quan để hội nhậpsâu hơn vào nền kinh tế quốc tế. Có ba nguyên nhân chính dẫn tới xu thếnày:Thứ nhất, những tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học công nghệ,đặc biệt trong lĩnh vực viễn thông, tin học, sinh học, vật liệu mới… đã làm tăngnhanh sự phát triển lực lượng sản xuất, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấukinh tế thế giới và sản xuất được quốc tế hóa cao độ. Xu thế khách quan đó đòihỏi có sự hợp tác ngày một sâu rộng, chặt chẽ của mọi quốc gia trên thế giới,đồng nghĩa với nó là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, các nền kinh tếcũng ngày càng tăng. Thứ hai, sự lớn mạnh của các công ty đa quốc gia đã thúcđẩy mạnh mẽ quá trình chuyên môn hóa, hợp tác và liên kết kinh tế giữa cácquốc gia, dẫn đến phân công lao động quốc tế ngày càng sâu sắc.Thứ ba, nhiềuvấn nạn mang tính toàn cầu như suy thoái môi trường, bùng nổ dân số, khủngbố, bệnh tật… đã và đang buộc cộng đồng thế giới phải đối mặt với những khókhăn mà không một quốc gia riêng lẻ nào có thể giải quyết.Hơn thế, xu thế toàncầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra với quy mô rộng lớn, tốc độ ngày càng caovà chi phối tất cả hoạt động của đời sống con người. Vòng đàm phán U-ru-goaykết thúc, Hiệp định Ma-ra-két được ký kết, Tổ chức thương mại thế giới (WTO)ra đời từ 01/01/1995 đã thu hút sự tham gia của 136 và tới nay là 148 quốc giavà lãnh thổ, chiếm gần 100% kim ngạch buôn bán quốc tế. Bên cạnh sự ra đờicủa WTO, nhiều mối liên kết toàn châu lục và liên châu lục đã được hìnhthành: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-Thái Bình Dương (APEC), Chươngtrình phát triển xuyên Đại Tây Dương, Hội nghị á-Âu (ASEM), Tổ chức hợp tác 7
  • 8. và phát triển 14 nước ven ấn Độ Dương… ở cấp độ thấp hơn, các tổ chức tiểuvùng, khu vực và liên khu vực, các mối liên kết tay đôi, tay ba, các tam, tứ giácphát triển, các khu vực mậu dịch tự do như AFTA, NAFTA, MERCOSUR... cũngđang gắn kết nhau lại để cùng phát triển. Như vậy, xu hướng hội nhập đã cuốntheo tất cả các nền kinh tế, hoặc là chủ động tham gia hoặc là bị động lôi cuốn.Không một quốc gia nào có thể phát triển mà đi theo chủ nghĩa biệt lập, dù lànhững nước giàu có như Hoa Kỳ hay đông dân như Trung Quốc. Thế giới đãchứng minh sự thất bại của các chiến lược phát triển kinh tế theo hướng đóngcửa, khép kín và thế giới cũng đã chứng kiến sự thành công ngoạn mục củanhững nền kinh tế mở cửa, hướng về xuất khẩu. Trước làn sóng phát triển mạnhmẽ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc!ViệtNam với hội nhập Trong bối cảnh trên, việc Việt Nam chủ động hội nhập vàonền kinh tế thế giới là một xu thế tất yếu khách quan, phù hợp quy luật pháttriển và yêu cầu của thời đại. Tuy nhiên, hội nhập như thế nào, bằng cách nàovà với mức độ như thế nào, điều đó còn xuất phát từ khả năng thực tế, trình độphát triển và chủ trương, chính sách của quốc gia. Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (1992) với chủ trương đa phương hóa,đa dạng hóa quan hệ kinh tế đã đánh dấu bước khởi đầu mang tính tất yếu chotiến trình hội nhập của Việt Nam. Văn kiện Đại hội Đảng VIII tiếp tục khẳngđịnh: “Các quốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác,liên kết khu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại… chúng ta chủ trươngmở rộng quan hệ quốc tế, hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với cácnước, các tổ chức quốc tế và khu vực…”. Mới đây nhất, Đại hội Đảng IX mộtlần nữa đặt ra yêu cầu: “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinhthần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độclập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa”. Sự chủ động được thể hiện trongviệc lựa chọn các tổ chức, các đối tác ta có quan hệ và thời điểm tham gia. Tínhchủ động hội nhập còn được thể hiện qua chủ động xây dựng lộ trình hợp lý,chủ động điều chỉnh luật pháp và chính sách phù hợp, chủ động tổ chức sản 8
  • 9. xuất và điều hành kinh tế trong nước, không ngừng nâng cao năng lực cạnhtranh không chỉ ở thị trường trong nước mà còn ở khu vực và trên thế giới. Nóicách khác, tính chủ động được thể hiện trong việc chọn “sân chơi” và cách chơitheo “luật chơi” chung. Như vậy, độc lập tự chủ là cơ sở để chúng ta thực hiệnđường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa. Song ngược lại, chủđộng hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực chính là sự bổ sung và hỗ trợ cần thiếtcho Việt Nam trong việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, theo định hướngXã hội chủ nghĩa. Điều này một lần nữa khẳng định hội nhập kinh tế quốc tếtrong thời đại hiện nay đã trở thành xu thế mang tính tất yếu khách quan đối vớimọi quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, trong đó đương nhiên có Việt Nam. 1.1.2Đặc trưng cơ bản của tiến trình hội nhậpHội nhập kinh tế quốc tế là xu thếkhông thể đảo ngược. Hơn bao giờ hết, đây là thời điểm các quốc gia cần cómột cái nhìn khách quan và công bằng về tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, từđó đưa ra những quyết định sáng suốt cho sự phát triển của chính mình. Mộttrong những yếu tố hàng đầu các quốc gia cần nhận thức được là những đặctrưng cơ bản của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. 1.1.2.1 Sự tự do lưu chuyểncác nguồn lựcSự tự do lưu chuyển các nguồn lực diễn ra một cách nhanhchóg,với quy _ô lớn trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Nguồn lực ở đây chủyếu bao gồm các luồng vốn và lao động, hai yếu tố cơ bản của nền kinh tế. Haiyếu tố này tạo nên cung và cầI,Ålà lý do²và phương tiện để cho các hoạt độngkinh tế có thể tồn tại và phát triển. Sự di chuyển của hai nguồn lực này thườngngược chiều nhau: các luồng vốn đi từ các nước phát triển đến các nqớc đangphátptriển và thị trường mới nổi, trong khi các nguồn nhân lực lại di chuyển từcác nước đang phát triển đến các nước phát triển. Tuy nhiên, dòng lưu chuyểnnhân lực theo hướng này đã dần chậm lại do nguồn nhân lực của các nước đangphát triển đa phần là trình độ thấp, kỹ năng lao động chưa cao. 1.1.2.2 Tínhcạnh tranh caoCạnh tranh ồà một quy luật thị trường, nó tồnÊtại trướN khi cácnền kinh tế biết đến tiến trình hội nhập. Tuy nhiên, trước xu thế toàn cầu hóadiễn ra mạnh mẽ, đặc tính cạnh tranh trở nên rõ rệt ~à quyết liệt hơn bao giờ 9
  • 10. Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 For Evaluation Only.hết. Những hiệp đểnh, những thỏa thuận hợp tác khiến cho đường biên giới quốcgia trong các giao dịch thương mại, tài chính, ngân hàng hầu như không còntồn tại. Các doanh nghiệp có cơ hội ngang nhau trong việc tiếp cận các thịtrường hàng hóa và thị trường vốn mà trước đây họ chưa thể xâm nhập. Nhữnglợi ích thu được từ tiến trình hội nhập khiến cho các doanh nghiệp cần cạnhtranh với nhau một cách gay gắt hơn để tồn tại và phát triển. Sự cạnh tranhkhông còn giới hạn trong thị trường nội địa nữa mà ngày càng được quốc tếhóa. Cũng từ nhận thức này mà trong Quan điểm chỉ đạo hội nhập kinh tế quốctế, Đảng ta đã chỉ rõ: hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình vừa hợp tác, vừa đấutranh và cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnhtáo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tùy theođối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể…1.1.2.3 Các chuẩn mực quốc tếvới vai trò là một ngôn ngữ chung cho các nền kinh tếCác chuẩn mực và thônglệ quốc tế là ngôn ngữ chung để các nền kinh tế có thể tiếp cận và giao lưu vớinhau. Bởi vậy, một trong những đặc trưng của tiến trình hội nhập là việc tiếpcận các chuẩn mực quốc tế. Trước khi nghĩ đến việc mở rộng phạm vi hoạt độngra thị trường thế giới, các doanh nghiệp, các định chế tài chính đều phải cânnhắc xem liệu mình đã đáp ứng được những tiêu chuẩn, quy định của thị trườngđó hay chưa. Tương tự, một quốc gia muốn mở cửa thì cũng phải rà soát lạikhuôn khổ pháp lý và những quy định của mình sao cho phù hợp với việc tiếpnhận các luồng đầu tư của doanh nghiệp nước ngoài. Ngày nay, hầu hết cácnước tham gia vào quá trình hội nhập đang nỗ lực hoàn thiện khuôn khổ phápluật và quản lý trong nước. Đồng thời các nước này cũng tìm cách kết hợp vớicác quốc gia khác trong khu vực nhằm tạo ra một tập hợp những thông lệ,chuẩn mực sử dụng chung cho khu vực và tiến gần đến với các tiêu chuẩn quốctế. 1.1.2.4 Rủi ro lớn đi đôi với hiệu quả kinh tế caoĐặc trưng cuối cùng của hộinhập là rủi ro cao đi liền với hiệu quả kinh tế cao. Các luồng vốn toàn cầu đãmang lại cho các quốc gia đang phát triển cơ hội đáp ứng chi tiêu và phát triểncác loại hình đầu tư của mình. Tuy nhiên, cái giá phải đánh đổi là những rủi ro 10
  • 11. và chi phí nhất định luôn đi kèm với các luồng vốn như những biến động tàichính, nguy cơ mất ổn định hệ thống, khả năng biến dạng thị trường, suy yếumột số ngành công nghiệp trong nước do không đủ sức cạnh tranh, nguy cơ lệthuộc vào nước ngoài và mất chủ quyền quốc gia. Trong đó, rủi ro lớn nhất làkhủng hoảng tài chính tiền tệ. Bởi trong môi trường hội nhập, một cuộc khủnghoảng có khả năng lan truyền nhanh chóng từ thị trường này sang thị trườngkhác, từ khu vực này sang khu vực khác và khó có nỗ lực của riêng một quốc gianào có thể ngăn chặn. Một cuộc khủng hoảng như vậy có thể kéo theo tình trạngmất niềm tin và sự đào thoát của những luồng vốn quốc tế trong một khoảngthời gian rất ngắn. Trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu á vào năm1997, tổng số vốn đào thoát khỏi các nước khu vực này (không kể Nhật bản) đãlên tới 11 tỷ USD. Vấn đề đặt ra trước những quốc gia muốn tham gia vào quátrình hội nhập là làm thế nào để tận dụng một cách thành công những lợi íchcủa các luồng vốn trong khi vẫn kiểm soát được các rủi ro kèm theo. Tóm lại,những đặc trưng trên là điều kiện đầu tiên mà các quốc gia cần ghi nhớ khibước chân vào tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Có như vậy từng quốc giakhác nhau mới có thể thiết lập một chiến lược hội nhập thích hợp nhất, đem lạihiệu quả kinh tế tối ưu. 1.1.3 Những kết quả ban đầu của Việt Nam trong tiếntrình hội nhập vào khu vực và thế giới.Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhữngbước tiến quan trọng và cần thiết trong tiến trình hội nhập vào khu vực và thếgiới. Sau gần 18 năm đổi mới, phát huy nội lực và hội nhập với nền kinh tế thếgiới, nền kinh tế nước ta đã đạt được một tốc độ tăng trưởng khá nhanh và ổnđịnh, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động và tăng nguồn thu chongân sách nhà nước. Chúng ta không những đã khắc phục và thoát ra khỏikhủng hoảng kinh tế xã hội mà còn mở rộng được thị trường xuất nhập khẩu.Trong giai đoạn 1990-2002, kim ngạch xuất khẩu đã tăng trung bình trên 20%mỗi năm. Bên cạnh đó, sự ra đời của Luật đầu tư trực tiếp nước ngoài (vàotháng 12/1987) đã tạo ra một động lực lớn cho sự phát triển của nền kinh tế. 11
  • 12. Cho đến nay, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp được 12-13% GDP, 20% kim ngạch xuất khẩu, 30% giá trị sản lượng công nghiệp, 7-8%thu nhập của ngân sách và giải quyết việc làm cho khoảng 40 vạn lao động trựctiếp cùng hàng chục vạn lao động gián tiếp. Ngoài ra, Việt Nam cũng tranh thủđược nguồn viện trợ phát triển không chính thức (ODA) ngày càng lớn. Tínhđến năm 2002, các nhà tài trợ (gồm một số nước và một số định chế tài chính)đã cam kết dành cho Việt Nam gần 20 tỷ USD, chủ yếu là cho vay ưu đãi với lãisuất từ 0,75% -2,5% và một phần là viện trợ không hoàn lại. Bên cạnh nhữngkết quả về mặt vật chất, trong những năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng tacũng đã tạo ra được “thế” và “lực” mới. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quanhệ ngoại giao với khoảng 170 quốc gia trên thế giới, phát triển quan hệ thươngmại với gần 140 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong đó không thể không kể tớimối quan hệ hợp tác ngày càng có hiệu quả với các tổ chức và thể chế tài chínhtiền tệ quốc tế như WB, IMF, ADB… ASEANGia nhập Hiệp hội các quốc giaĐông Nam á (ASEAN) đã đánh dấu sự mở đầu có tính chất đột phá trong tiếntrình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Sau 3 năm là quan sát viên kể từ tháng7/1992, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của ASEAN vào tháng7/1995. Với những đóng góp tích cực và chủ động của mình, Việt Nam đồng thờitrở thành thành viên của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và đã thựchiện trọn vẹn cam kết theo Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung(CEPT) ngay trong hai năm 1996-1997. Đầu năm 1998, Việt Nam đã chính thứccông bố lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể gồm 2.265 mặt hàng. Nước tacũng tích cực tham gia các hoạt động khác của ASEAN như thông qua Tầm nhìn2020, xây dựng Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), thúc đẩy Chương trình hợp táccông nghiệp ASEAN (AICO).APEC Trở thành thành viên của Diễn đàn hợp táckinh tế Châu á-Thái Bình Dương (APEC) là bước nhảy vọt thứ hai của ngoạigiao Việt Nam, mở ra những hướng phát triển mới trong tiến trình hội nhập.Việt Nam nộp đơn gia nhập APEC vào tháng 6/1996 và được kết nạp làm thànhviên chính thức của Diễn đàn vào tháng 11/1998. Từ một môi trường ASEAN chỉ 12
  • 13. có 10 nước thành viên sang môi trường gồm 21 nước của khu vực Châu á-TháiBình Dương, Việt Nam đã có một bước chuyển mình đáng kể. Vị trí của ViệtNam ở Châu á-Thái Bình Dương và trên trường quốc tế được nâng cao. Hơnthế, hoạt động trong APEC cũng tạo tiền đề thuận lợi và là một bước chuẩn bịcho Việt Nam tham gia Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Mục tiêu của APEClà tự do mậu dịch và đầu tư vào năm 2010 và 2020, bởi vậy diễn đàn khu vựcnày cam kết mọi hoạt động sẽ phù hợp với các quy định và nguyên tắc của WTO.Tuy tham gia APEC với thời gian chưa dài và nền kinh tế còn nhiều khó khănsong Việt Nam luôn cho thấy một ý thức, nỗ lực cao trong việc thực hiện vàtham gia các chương trình hoạt động của diễn đàn. Việc thực hiện Kế hoạchhành động quốc gia (IAP) của Việt Nam được đánh giá là nghiêm túc nhất trongsố các thành viên mới gia nhập, củng cố thêm sự tin tưởng của các quốc gia trênthế giới vào chính sách mở cửa và hội nhập của nước ta.ASEM Tháng 3/1996,Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác á-âu với tư cách là một trong những thànhviên sáng lập. Khi ASEM ra đời, lần đầu tiên thế giới đã chứng kiến một cơ chếhợp tác liên châu lục: châu á-châu âu. Diễn đàn ASEM 1 tại Băngcốc đã đánhdấu sự gặp gỡ giữa các nguyên thủ quốc gia của 7 nước ASEAN, 15 nước EU vàba cường quốc Mỹ, Nhật, Trung Quốc, khép kín cạnh thứ ba trong tam giác BắcMỹ–EU–Châu á. Mục tiêu chung của ASEM là thúc đẩy đối thoại chính trị, xâydựng quan hệ hợp tác sâu rộng và toàn diện giữa hai châu lục, tăng cường hợptác trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, môi trường, phát triển nguồn nhân lực. Vàmục tiêu chính của Việt Nam trong tổ chức này là xúc tiến mở rộng thị trườngthương mại, đầu tư, hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật trên cơ sở cùng có lợi.Tại hội nghị cao cấp lần 2 của diễn đàn được tổ chức tại Lônđôn, sáng kiến củaViệt Nam về “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa” và “Kết hợp y dược cổtruyền và y dược hiện đại trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng” đã được hoannghênh nhiệt liệt và được đưa vào chương trình hợp tác chính thức của ASEM.Ngoài ra, Việt Nam tham gia tích cực các chương trình hoạt động khác của diễnđàn như Kế hoạch hành động thuận lợi hóa thương mại (TFAP), Kế hoạch hành 13
  • 14. động xúc tiến đầu tư (IPAP)…Đàm phán gia nhập WTOTổ chức thương mại thếgiới (WTO) là một tổ chức quốc tế lớn mang quy mô toàn cầu và chiếm tới gần100% tổng giá trị thương mại thế giới. Các nguyên tắc cơ bản của WTO nhưnguyên tắc Tối huệ quốc, Đãi ngộ quốc dân đã được áp dụng ở hầu hết cácnước trên thế giới, kể cả các nước chưa phải là thành viên của tổ chức này.Tháng 1/1995, Việt Nam đã chính thức nộp đơn xin gia nhập WTO. Tháng7/1996 Việt Nam đã thông báo với WTO về chính sách thương mại của mình,hoàn tất việc trả lời các câu hỏi của các nước thành viên. Tháng 7/1998, ViệtNam đã tiến hành phiên họp đầu tiên với WTO về minh bạch hóa chính sáchthương mại và hàng hóa. Cho đến nay, Việt Nam đã đưa ra được chương trìnhthể chế hóa pháp luật và tiến hành xây dựng một số tài liệu theo mẫu quy địnhcủa WTO. Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho các phiên họp tới theo hướngtiếp tục minh bạch hóa chính sách và sẽ tiến hành các cuộc đàm phán songphương với một số thành viên WTO như EU, Thụy Sỹ, Mỹ, ác-hen-ti-na, HànQuốc… Tất cả những nỗ lực trên đây thể hiện quyết tâm lớn của Việt Nam gianhập vào WTO và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới.BTAHiệp địnhthương mại Việt Nam–Hoa Kỳ (BTA) có thể coi là sự thể hiện cao nhất cho chủtrương “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giới”. Trải qua 9vòng đàm phán kéo dài từ tháng 6/1996, vào tháng 7/2000 tại Washington, Bộtrưởng thương mại Việt Nam Vũ Khoan đã ký Hiệp định thương mại Việt Nam–Hoa Kỳ, mở ra cơ hội lớn cho Việt Nam và đánh dấu một giai đoạn mới trongphát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước. Cốt lõi của các cam kếttrong Hiệp định này là các bên dành cho nhau Quy chế tối huệ quốc (MNF),từng bước giảm thuế nhập khẩu, mở cửa thị trường cho nhau, từng bước tạo sựbình đẳng giữa các công ty trong và ngoài nước, phù hợp với yêu cầu của Chếđộ đãi ngộ quốc gia (NT), bảo vệ quyền tác giả, sở hữu công nghiệp, quyền sởhữu trí tuệ. Vì Việt Nam là nước đang phát triển ở trình độ thấp, lại đang trongquá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế nên lộ trình thực hiện các cam kết là từ 3-10năm sau khi Hiệp định có hiệu lực. Nói cách khác, Hoa Kỳ chấp nhận Việt Nam 14
  • 15. có một lộ trình mở cửa thích hợp cho từng lĩnh vực. Tóm lại, hội nhập kinh tếquốc tế là một tất yếu khách quan và hội nhập mang lại cho mỗi nước tham gianhững lợi ích to lớn. Vấn đề đặt ra là Việt Nam phải lựa chọn cho mình một lộtrình hội nhập thế nào và mức độ hội nhập ra sao để có thể mang lại lợi ích tốiđa với cái giá phải trả là tối thiểu. Điều này đòi hỏi nhận thức rõ ràng về nhữngđặc trưng cơ bản của tiến trình hội nhập, kết hợp với hoàn cảnh kinh tế, chínhtrị, xã hội của đất nước. Quan trọng nhất là Việt Nam cần nỗ lực hết sức để cóthể nhanh chóng hòa nhập và phát triển cùng nền kinh tế thế giới song vẫn bảovệ được độc lập, chủ quyền và định hướng xã hội chủ nghĩa của mình.1.2 Tácđộng của hội nhập kinh tế quốc tế đến ngành mía đường 1.2.1 Lộ trình camkết:Trong khuôn khổ mậu dịch tự do AFTA, Việt Nam cam kết tới năm 2003,thuế suất nhập khẩu đối với tất cả các mặt hàng không vượt quá 20%, đồng thờicác hạn chế định lượng phải bị loại bỏ. Tuy nhiên, 51 nông sản thuộc Danh mụcnông sản chưa chế biến nhạy cảm (SEL) như gạo, cam, quýt, bưởi… có thời hạncắt giảm thuế quan và hàng rào phi thuế quan chậm hơn. Đường là mặt hàngnằm trong danh mục SEL nên hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ cắt giảmtừ năm 2006. Như vậy, từ năm 2006, thuế suất đối với các sản phẩm đường sẽkhông vượt quá 5%. Mức thuế suất này sẽ giảm dần trong các năm tiếp theo vàđến năm 2010 sẽ đạt mức 0%, đồng thời mọi hàng rào phi thuế quan đều phảibãi bỏ. Từ thời điểm đó, các thành viên AFTA có thể tiếp cận thị trường míađường Việt Nam một cách dễ dàng mà không bị cản trở bởi các hàng rào phithuế quan và mức thuế suất cao. So với lộ trình AFTA, các cam kết liên quanđến nông nghiệp của Hiệp định thương mại Việt Nam–Hoa Kỳ có thời hạn thựchiện dài hơn. Tuy nhiên, mức tự do hóa trong cam kết này lại cao hơn so vớiChương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) và AFTA. Ngoài ra,hiện nay Việt Nam đang tích cực chuẩn bị phương án đàm phán gia nhập WTO.Cần phải mất vài năm mới có thể đạt được những cam kết về điều kiện gia nhậpmà cả Việt Nam và hơn 140 thành viên WTO cùng thỏa mãn. Nhưng nhìn chung,ngành mía đường Việt Nam vẫn phải tuân thủ theo tất cả các quy định về thuế 15
  • 16. quan, hàng rào phi thuế quan, về trợ cấp trong nước hay hỗ trợ xuất khẩu của tổchức này. Tuy nhiên, do là một nước đang phát triển nên theo quy định củaWTO, Việt Nam vẫn có thể trợ cấp xuất khẩu nông sản trong các khâu liên quanđến vận tải, đóng gói hay tiếp thị và được phép hỗ trợ cho một ngành nôngnghiệp không quá 10% tổng giá trị của ngành đó. Đây là những hình thức màcho đến nay Việt Nam vẫn chưa áp dụng nên cần nghiên cứu kỹ để có thể hỗ trợcho ngành mía đường trong thời gian tới. 1.2.2 Các tác động1.2.2.1 Tác độngtheo hướng tích cựcTiềm năng mở rộng thị trườngViệc tham gia các tổ chức khuvực và quốc tế cùng các hiệp định song phương sẽ mang lại môi trường cạnhtranh bình đẳng cho các nhà sản xuất Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để xâmnhập và mở rộng thị trường của ngành mía đường. Đây là cơ hội cho một sốmặt hàng truyền thống, có chất lượng cao của ngành được phát triển mạnh, giatăng thị phần tiêu thụ. Chi phí nguyên vật liệu, vật tư, máy móc nhập khẩugiảm đáng kểHiện nay phần lớn công nghệ về giống hay máy móc, thiết bị đầutư cho ngành công nghiệp mía đường Việt Nam vẫn phải nhập khẩu từ nướcngoài với thuế suất cao. Việc tự do hóa thương mại cùng những cam kết về thuếquan và hàng rào phi thuế quan sẽ giúp ngành có thể tiết kiệm được chi phínhập khẩu vật tư, thiết bị, máy móc…Đầu tư nước ngoài tăngNgành côngnghiệp mía đường Việt Nam mới được chính thức xây dựng và phát triển từ năm1995, khi có Chương trình mía đường quốc gia. Từ đó đến nay, việc thu hút đầutư trong nước và quốc tế vẫn còn nhiều hạn chế. Quá trình thực hiện lộ trình hộinhập kinh tế quốc tế của Việt Nam sẽ tạo ra một môi trường hấp dẫn thúc đẩyđầu tư nước ngoài vào ngành. Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để ngành mía đườngáp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới vào sản xuất kinh doanhvà học hỏi các kinh nghiệm quản lý tổ chức tiên tiến của các nước. 1.2.2.2. Tácđộng theo hướng tiêu cựcTạo áp lực về năng lực cạnh tranhNgành mía đườnghiện đang đứng trong nhóm có năng lực cạnh tranh thấp của quốc gia, đặc biệtlà Năng lực cạnh tranh về giá cả. Trong khi đó, những đối thủ của ngành ở hiệntại và trong tương lai vừa có quy mô lớn, kinh nghiệm lâu năm lại vừa được sự 16
  • 17. bảo hộ mạnh từ phía chính phủ. Sức ép cạnh tranh ngày càng gia tăng đối vớingành mía đường Việt Nam trong quá trình hội nhập là điều không thể tránhkhỏi và là một thách thức lớn phải vượt qua.Nhận thức về hội nhập chưa đầy đủ,sâu sắcHiện nay phần lớn các doanh nghiệp trong ngành đều thiếu một chiếnlược sản xuất kinh doanh dài hạn và ổn định. Bản thân ngành mía đường cũngchưa xây dựng được một chiến lược cụ thể về hội nhập hay cạnh tranh trong khilộ trình thực hiện AFTA đang đến quá gần. Điều này cho thấy sự thiếu nhạy bénvề thị trường và nhận thức còn chưa đầy đủ về quá trình hội nhập. Đây là mộthạn chế lớn gây cản trở đến khả năng nắm bắt các cơ hội cũng như đối phó vớicác thách thức mà hội nhập đưa lại. Thay đổi cách thức sản xuất đã tồn tại lâunayMột điều dễ nhận thấy là các cam kết quốc tế sẽ không chỉ tác động trực tiếpvà mạnh mẽ đến ngành chế biến đường và các sản phẩm sau đường mà tới cảnhững người nông dân xưa nay chỉ sống nhờ vào việc cung cấp đầu vào cho cácngành sản xuất này. Đơn cử như chỉ sau vài năm nữa, nông dân trồng mía, cáclò đường thủ công sẽ phải đối mặt với đường nhập khẩu chất lượng cao mà giálại thấp. Người nông dân sẽ rất thụ động, thiệt thòi nếu như các nhà máy tiêuthụ sản phẩm của họ gặp phải khó khăn lớn hay thua lỗ, phá sản. Chịu tác độngcủa của thị trường thế giới thường xuyên biến độngHội nhập vào kinh tế khuvực và thế giới cũng có nghĩa là đối mặt với những biến động bất ngờ của thịtrường, đặc biệt là biến động về cung cầu, giá cả. Thực tế là cung cầu đườngtrên thị trường thế giới biến động rất mạnh và giá đường trong những năm qualiên tục sụt giảm. Hơn thế, những cuộc khủng hoảng, những thay đổi kinh tế dùlớn, dù nhỏ đều sẽ gây ra những tác hại khó lường với một ngành còn non trẻnhư mía đường. Thách thức về môi trường quản lý vĩ môHệ thống pháp luật, cơchế, chính sách vĩ mô của Việt Nam còn nhiều bất cập. Các cơ quan quản lýchưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho ngànhmía đường theo hướng nâng cao sức cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu của hội nhậpkinh tế quốc tế. Như vậy, cùng với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và nhữngcam kết hội nhập của Việt Nam, ngành mía đường sẽ đứng trước nguy cơ cạnh 17
  • 18. tranh khốc liệt từ các đối thủ nước ngoài ngay tại thị trường Việt Nam, chưa nóiđến cạnh tranh trên thị trường khu vực và thế giới. Để tồn tại và phát triển đượctại chính thị trường trong nước, một trong những yêu cầu hàng đầu đối vớingành hiện nay là nâng cao năng lực cạnh tranh. 1.3 Khái niệm về cạnh tranhvà năng lực cạnh tranh 1.3.1 Khái niệm về cạnh tranhCạnh tranh là một kháiniệm rất phổ biến của kinh tế, là một đặc trưng của nền sản xuất hàng hóa.Cạnh tranh, hiểu theo nghĩa khái quát, là sự ganh đua giữa những người theođuổi cùng mục đích nhằm đánh bại đối thủ và giành cho mình lợi thế nhiều nhất.Theo ý nghĩa kinh tế, cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thểkinh tế ganh đua, tìm mọi biện pháp (cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn) đểđạt được mục tiêu kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, tối đahóa lợi ích, nâng cao vị thế... Trên bình diện toàn nền kinh tế, cạnh tranh có vaitrò thúc đẩy kinh tế phát triển. Cạnh tranh khiến cho các nguồn lực được phânbổ một cách hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các doanh nghiệp sử dụngtối ưu các nguồn lực, hạn chế các méo mó của thị trường, góp phần phân phốilại thu nhập và nâng cao phúc lợi xã hội. Trên bình diện doanh nghiệp, bằng sựhấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lựcphá sản, cạnh tranh buộc các doanh nghiệp luôn cải tiến phương thức sản xuất,nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý để thích ứng với nhữngbiến động của thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh đã trở thành tiền đề,động lực và mục tiêu theo đuổi liên tục trong suốt quá trình phát triển doanhnghiệp.Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãihơn về chủng loại, chất lượng, giá cả, mẫu mã của hàng hóa và dịch vụ. Cạnhtranh bảo đảm rằng cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giácả một cách tùy tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trườngvà lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội. Trên bình diện quốc tế, cạnh tranhthúc ép các doanh nghiệp mở rộng, tìm kiếm thị trường với mục đích như tiêuthụ, đầu tư, huy động vốn, lao động, công nghệ, quản lý… trên thị trường thếgiới. Thông qua cạnh tranh quốc tế, các doanh nghiệp thấy được những lợi thế 18
  • 19. so sánh cùng những yếu kém của mình để hoàn thiện và phát triển. Như vậy,cạnh tranh cũng như các quy luật, hiện tượng kinh tế, xã hội khác chỉ xuất hiệnvà phát triển khi có các điều kiện như nhu cầu cạnh tranh, môi trường cạnhtranh và vận hành tốt khi có môi trường cạnh tranh hiệu quả. 1.3.2 Khái niệm vềnăng lực cạnh tranhTheo Đề án quốc gia về “Nâng cao năng lực cạnh tranh củahàng hóa và dịch vụ Việt Nam” (do Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tếcủa Việt Nam thực hiện) thì năng lực cạnh tranh (hay Khả năng cạnh tranh,Tính cạnh tranh–Competitiveness) được xem xét ở ba cấp độ: năng lực cạnhtranh quốc gia, năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp và năng lực cạnhtranh của hàng hóa và dịch vụ. Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu lànăng lực của một nền kinh tế có thể đạt được sự tăng trưởng bền vững, đảm bảoổn định kinh tế và nâng cao đời sống của dân cư. Đề án đưa ra 8 nhóm tiêu chíđánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia dựa theo các tiêu chí của Diễn đàn kinhtế Thế giới (WEF) bao gồm: Độ mở của nền kinh tế Vai trò và hiệu lực củachính phủSự phát triển của hệ thống tài chính, tiền tệTrình độ phát triển côngnghệTrình độ phát triển cơ sở hạ tầngTrình độ quản lý doanh nghiệpSố lượngvà chất lượng lao độngTrình độ phát triển thể chếNăng lực cạnh tranh củangành/doanh nghiệp là năng lực bù đắp chi phí, duy trì lợi nhuận và được thểhiện qua thị phần của sản phẩm và dịch vụ trên thị trường. Năng lực cạnh tranhcủa ngành/doanh nghiệp được xác định trên cơ sở bốn nhóm yếu tố cơ bản baogồm: Chất lượng và khả năng cung ứng, mức độ chuyên môn hóa đầu vàoCôngnghiệp và dịch vụ hỗ trợ Nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ và yêu cầu củakhách hàng về chất lượng sản phẩm, dịch vụMức độ cạnh tranh trên lĩnh vực màngành/doanh nghiệp kinh doanh và vị thế của ngành/doanh nghiệp so với cácngành/doanh nghiệp khác Năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ là cơsở tạo nên sức cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp và tổng hợp năng lực cạnhtranh của hàng hóa và dịch vụ tạo nên sức cạnh tranh của một quốc gia. Nănglực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ thể hiện tập trung ở 4 yếu tố Giá cả,chất lượng, tổ chức tiêu thụ và uy tín của doanh nghiệp. Trên thực tế, cấp độ 19
  • 20. cạnh tranh này thường được phân tích lồng ghép với phân tích cạnh tranh củangành/doanh nghiệp.Ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ mật thiếtvới nhau. Năng lực cạnh tranh quốc gia là tổng hợp năng lực cạnh tranh củacác ngành/doanh nghiệp trong khi năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệplại được phản ánh qua năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ. Đồng thời,năng lực cạnh tranh quốc gia có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh cấpdoanh nghiệp/ngành. Còn năng lực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ chịu tácđộng của cả năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp/ngành và năng lực cạnhtranh quốc gia. Tóm lại, hiểu được mối quan hệ chặt chẽ giữa ba cấp độ này đểthấy được sự khác biệt trong việc đánh giá năng lực cạnh tranh ở từng cấp độcũng như sự tác động qua lại giữa năng lực cạnh tranh ở một cấp với năng lựccạnh tranh ở hai cấp độ còn lại. Đối tượng của khóa luận là Năng lực cạnhtranh ở cấp độ ngành. Do vậy, nó sẽ chịu tác động qua lại của cả năng lực cạnhtranh của nền kinh tế Việt Nam và năng lực cạnh tranh của các sản phẩm trongchính ngành mía đường.1.4 Xây dựng mô hình đánh giá năng lực cạnh tranhcủa ngành mía đường Việt Nam 1.4.1 Các phương pháp đánh giá năng lực cạnhtranh của một ngànhMặc dù thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rấtrộng rãi trong trong thời gian gần đây song cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trícao về cách thức đo lường, phân tích. Theo Đề án quốc gia về “Nâng cao nănglực cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ Việt Nam”, có ba phương pháp phântích năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệp thường được sử dụng.Phươngpháp 1: Phân tích lợi thế cạnh tranh trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh về chiphí hay khả năng sinh lời trên một đơn vị sản phẩm.Đây là phương pháp phântích năng lực cạnh tranh trong trạng thái động dựa trên hệ thống các chỉ số.Các chỉ số này cho phép xác định được mức độ đóng góp của ngành/doanhnghiệp vào nền kinh tế. Khi phân tích năng lực cạnh tranh theo phương phápnày cần tính đến một số dự báo như: biến động chu kỳ sản phẩm, mức độ phổbiến công nghệ và tích lũy kinh nghiệm, chi phí đầu vào, những thay đổi trongchính sách của Chính phủ và khuynh hướng nhu cầu …Ưu điểm của phương 20
  • 21. pháp này là đưa ra được những phân tích mang tính định lượng để đánh giánăng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, về mặt thực tế, phương pháp này khá phức tạpvà khó thực hiện, đặc biệt rất khó ứng dụng vào việc phân tích năng lực cạnhtranh của một ngành ở nước ta. Phương pháp 2: Phân tích theo quan điểm tổnghợpCó 3 vấn đề cơ bản cần được giải đáp khi nghiên cứu năng lực cạnh tranhcủa một ngành/doanh nghiệp theo phương pháp này, đó là:So sánh năng lựccạnh tranh của ngành/doanh nghiệpNhững nhân tố thúc đẩy và những nhân tốhạn chế đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành/doanh nghiệpNhữngtiêu chí đặt ra cho chính sách nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành/doanhnghiệp, những chính sách, chương trình và công cụ của chính phủ để đáp ứngcác tiêu chí đó.Phương pháp 2 có ưu điểm là vừa đo lường lại vừa chỉ ra đượcnhững nhân tố thúc đẩy hay kìm kãm tính cạnh tranh. Song có một hạn chế làphương pháp này thường được sử dụng nhiều để đánh giá năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp hơn là năng lực cạnh tranh của một ngành.Phương pháp 3:Phân tích theo cấu trúc ngànhĐây chính là phương pháp phân tích theo “Quanđiểm quản trị chiến lược” của Michael Porter. Theo phương pháp này, đối vớimỗi ngành, năng lực cạnh tranh được xem xét theo 5 nhân tố:Sự thâm nhập củacác công ty mới vào lĩnh vực kinh doanhCác sản phẩm hay dịch vụ thay thếSứcmạnh của nhà cung ứngSức mạnh của người muaMức độ cạnh tranh trong nộibộ ngành Đây là một phương pháp phân tích sâu những nhân tố chính tác độngđến lợi thế cạnh tranh của ngành. Tuy nhiên, phương pháp này khi áp dụng lạikhó có thể thu thập được những thông tin cần thiết, đặc biệt khi cạnh tranh diễnra trên quy mô quốc tế. Tóm lại, cả ba phương pháp trên đều có những thếmạnh và các hạn chế nhất định khi phân tích năng lực cạnh tranh. Xét về mặt lýthuyết, phương pháp 3 là thích hợp nhất để đánh giá năng lực cạnh tranh củangành. Tuy nhiên, cả 5 nhân tố mà phương pháp đưa ra đều mang tính chất“ngoại vi”. Nói cách khác, đây là những áp lực bên ngoài tác động đến nănglực cạnh tranh của ngành. Trong khi đó, sẽ là thiếu xót khi đánh giá năng lựccạnh tranh mà không xem xét yếu tố nội lực cùng những lợi thế so sánh của bản 21
  • 22. thân ngành đó. 1.4.2 Mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành míađường Việt Nam Xuất phát từ kết luận trên, tác giả xin tự xây dựng một mô hìnhđánh giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam. Mô hình này vềnguyên lý sẽ dựa trên phương pháp 3 của Michael Porter song được điều chỉnhcho phù hợp với thực tế nghiên cứu ngành mía đường. Mô hình này xem xétnăng lực cạnh tranh của ngành dưới 5 tác độngNăng lực sản xuất Thị trườngtiêu thụĐối thủ cạnh tranh và các sản phẩm bổ sung thay thếCác ngành hỗ trợliên quanMôi trường cơ chế, chính sách Trong đó, nhân tố đầu tiên sẽ đánh giácác yếu tố thuộc về nội lực của ngành cùng các lợi thế cạnh tranh. Bốn nhân tốcòn lại là những tác nhân bên ngoài có tác động qua lại đến năng lực cạnhtranh của ngành. 1.4.2.1 Năng lực sản xuất Năng lực sản xuất là nhân tố nội lựcquan trọng nhất đánh giá tổng quan khả năng cạnh tranh của ngành. Nhân tốnày được phân tích tập trung qua 7 yếu tố về nguyên liệu, nhân lực, công nghệ,quy mô các nhà máy, sản lượng, giá cả và chất lượng. Trong đó, nguyên liệu,nhân lực, công nghệ và quy mô các nhà máy là 4 yếu tố chính tạo nên năng lựcsản xuất còn sản lượng, chất lượng và giá cả là những yếu tố đo lường năng lựcsản xuất. Nguyên liệuNguồn nguyên liệu có vai trò quyết định đến chất lượng,giá cả, năng lực sản xuất cũng như sức cạnh tranh của toàn ngành. Nguyên liệuđược đề cập đến ở đây là cây mía. Mía là nguồn nguyên liệu đầu vào chính yếuvà không thể thay thế của ngành công nghiệp mía đường Việt Nam. Hai nhân tốquan trọng để đánh giá chất lượng mía là năng suất mía và chi phí sản xuấtmía. Năng suất bao gồm cả số cây trên một đơn vị diện tích và hàm lượngđường trong mía. Nguồn nguyên liệu ổn định, chất lượng cao với chi phí sảnxuất tối thiểu sẽ là yếu tố cạnh tranh của bất kỳ quốc gia sản xuất đường nào.Ngược lại, nguồn nguyên liệu thất thường, năng suất thấp và chi phí sản xuấtcao sẽ kéo giá thành đường lên cao, làm giảm năng lực cạnh tranh của ngành.Nhân lựcNhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu của hoạt động sản xuất kinhdoanh. Nguồn nhân lực ngành mía đường có thể được chia theo các cấp độ: cánbộ quản lý, đội ngũ công nhân viên và nông dân. Lực lượng nông dân trồng mía 22
  • 23. là một đặc trưng riêng biệt của nguồn nhân lực ngành và có vai trò quyết địnhđến chất lượng mía nguyên liệu cung cấp cho các nhà máy đường. Cán bộ quảnlý có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động của các nhà máy và do đó đến chấtlượng toàn ngành. Cán bộ quản lý có trình độ cao, có kinh nghiệm, chủ động,sáng tạo sẽ sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, đem lại năng lực cạnh tranhcao cho nhà máy. Đội ngũ công nhân viên nhờ đó cũng đáp ứng được các tiêuchuẩn về năng suất lao động, trình độ tay nghề, ý thức trách nhiệm… Nhân lựclà nguồn tài sản vô hình mang lại những giá trị gia tăng ưu việt cho sản phẩmtrong quá trình hội nhập quốc tế. Công nghệTrong những năm gần đây, hàmlượng công nghệ kỹ thuật có xu hướng chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong sảnphẩm và do đó là yếu tố ảnh hưởng lớn đến chất lượng và tính năng của sảnphẩm. Việc sử dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất giúp doanh nghiệp có thểtạo ra những sản phẩm có tính năng ưu việt, chất lượng cao, giá thành hạ, từ đónâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng khả năng tiêu thụ sản phẩm của ngànhtrước các đối thủ. Quy mô các nhà máy Quy mô các nhà máy sẽ quyết định tínhkinh tế theo quy mô của nhà máy và của toàn ngành. Quy mô các nhà máy màlớn thì khả năng đầu tư về công nghệ, quản lý, vốn… sẽ đủ lớn để tạo ra hiệuquả kinh tế theo quy mô. Nếu các nhà máy trong ngành có quy mô tương đốiđồng đều thì sẽ có sự cạnh tranh tích cực về nguồn nguyên liệu, lao động… vàsẽ kích thích sự tăng trưởng chung nhằm phát huy nội lực của ngành trong cạnhtranh quốc tế. Sản lượng, giá cả và chất lượngĐây là các nhân tố định tính vàđịnh lượng đo lường năng lực sản xuất của ngành. Sản lượng lớn, giá cả thấpvà chất lượng sản phẩm cao thì năng lực sản xuất của ngành lớn, tạo ra nhữnglợi thế cạnh tranh cao. Đặc biệt, khi chất lượng và chủng loại sản phẩm của cácnhà sản xuất đường trên thế giới không có sự khác biệt rõ rệt thì giá cả là mộtyếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh. 1.4.2.2 Thị trường tiêu thụ Thịtrường tiêu thụ quyết định mức cầu của ngành và tạo ra áp lực cạnh tranh giữacác nhà sản xuất. Thị trường tiêu thụ ở đây được xét đến dưới tác động của quátrình hội nhập kinh tế quốc tế, bởi vậy nó bao gồm cả thị trường trong nước và 23
  • 24. thị trường thế giới. Trong đó, thị trường trong nước được chia thành 2 mảnglớn, thị trường tiêu dùng đường trực tiếp và thị trường các ngành công nghiệpchế biến sử dụng đường làm nguyên liệu đầu vào cho quá trình sản xuất.Đối thủcạnh tranh và các sản phẩm bổ sung, thay thếĐối thủ cạnh tranh là nhữngngười đã, đang hoặc sẽ sản xuất kinh doanh những mặt hàng tương tự với cácsản phẩm hiện có của ngành và đe dọa giành giật khách hàng, thị phần và lợinhuận của ngành. Mức độ cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt nếu có các yếu tố nhưngành có mức tăng trưởng chậm, sản phẩm thiếu sự khác biệt, xuất hiện nhiềuđối thủ cạnh tranh hoặc các đối thủ cạnh tranh tương đương nhau. Đối thủ cạnhtranh vừa là một nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của ngànhlại vừa là một nội dung rất quan trọng để đánh giá sức cạnh tranh của ngành.Sản phẩm thay thế, bổ sung là những sản phẩm tương đồng với những sản phẩmmà ngành cung cấp. Khách hàng có thể dùng các sản phẩm này thay thế hoặcdùng cùng với sản phẩm của ngành và khi đó những sản phẩm thay thế, bổ sungđã tạo ra một mức giá trần cho ngành. Sản phẩm của ngành khó có thể bán ởmức giá cao hơn mức giá trần này vì khi đó, khách hàng có thể chuyển sang muasản phẩm bổ sung, thay thế mà không tiêu dùng các sản phẩm của ngành nữa.1.4.2.3 Các ngành hỗ trợ, liên quanMột ngành không thể tồn tại và phát triển nếu như không có có mối quan hệ tácđộng qua lại với những ngành hỗ trợ và liên quan đi kèm với nó. Một ngành chỉcó thể tăng trưởng tốt nếu các ngành hỗ trợ, liên quan đến ngành hoạt động tốt,đáp ứng được những yêu cầu, chức năng mà tự ngành đó không thể tạo ra được.Cũng như vậy, ngành sẽ gặp nhiều khó khăn, sự phát triển bị kìm hãm khi cácngành hỗ trợ, liên quan yếu kém, chậm cải thiện. Ngược lại, nếu bản thân ngànhphát triển tốt thì sẽ mang lại những đóng góp tích cực cho các ngành hỗ trợ, liênquan và tạo ra động lực để các ngành này phát triển tốt hơn nữa.1.4.2.4 Môi trường cơ chế, chính sách 24
  • 25. Môi trường cơ chế, chính sách là yếu tố bên ngoài có tác động lớn nhất đến khảnăng phát triển và cạnh tranh của ngành. Môi trường này bao gồm tất cả nhữngchính sách liên quan, chi phối và kiểm soát hoạt động của ngành như chính sáchtài chính, đầu tư, giá cả, hàng rào thuế quan và phi thuế quan… Môi trường cơchế chính sách thể hiện bản lĩnh và khả năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Chínhphủ trong nền kinh tế thị trường cũng như vai trò định hướng cho sự phát triểncủa từng ngành. Môi trường cơ chế, chính sách càng trở nên quan trọng trongquá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Chính vì vậy, môi trường cơ chế, chính sáchđược xem như một lợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất đường khác nhau trênthế giới.Như vậy, mô hình đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Namđược xây dựng trên cơ sở kết hợp giữa các nhóm yếu tố bên trong tạo nên nănglực cạnh tranh của ngành với các nhóm nhân tố bên ngoài tác động, chi phối đếnnăng lực cạnh tranh. Mỗi nhóm nhân tố này có một tầm quan trọng và sự ảnhhưởng nhất định đến năng lực cạnh tranh và mối quan hệ giữa chúng được thểhiện khái quát trong mô hình sau: 25
  • 26. Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 For Evaluation Only.MÔ HÌNH ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM ĐỐI THỦ CẠNH TRANH CÁC NGÀNH LIÊN QUAN, NĂNG LỰC 4‡à TRƯỜNG MÔI TRƯỜNG SẢN XUẤT TIÊU THỤ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM BỔ SUNG THAY THẾ 26
  • 27. CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH MÍA ĐƯỜNG VIỆT NAM BẰNG MÔ HÌNH TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ2.1 NĂNG LỰC SẢN XUẤT2.1.1 Điều kiện sản xuất2.1.1.1 Nguyên liệuNguồn nguyên liệu mía là lợi thế cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam.Cây mía có thể thích hợp với hầu hết các loại đất, lại là cây không đòi hỏi chămsóc phức tạp và cho chất lượng tốt ở những vùng có khí hậu nóng ẩm. Vì vậy,trồng mía có thể khai thác triệt để được các lợi thế về đất đai, khí hậu và nguồnlao động nông nghiệp ở nước ta.Lợi thếDiện tích trồng mía rộng lớn, sản lượng tăng đều và ổn định. Trước khi triểnkhai Chương trình mía đường, diện tích và sản lượng mía tăng chậm, tốc độ pháttriển bình quân 1980-1990 là 1,75%, 1990-1994 là 4,2%. Năm 1994, cả nướcmới chỉ có 150.000 ha mía, sản lượng đạt 7,5 triệu ha. Song từ năm 1995 đếnnay, diện tích và sản lượng đã có sự thay đổi lớn.Biểu đồ 1: Diện tích trồng mía giai đoạn 1994-2003 400 350 DiÖn tÝch (ngh×n ha) 300 250 200 150 100 50 0 1992 1994 1996 1998 2000 2002 2004Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất mía đường – Bộ NN và PTNT 27
  • 28. Sau 5 năm thực hiện Chương trình mía đường, diện tích cả nước đã đạt 350.000ha, tăng 134% so với năm 1994. Năng suất bình quân 50,8 tấn/ha. Sản lượngmía cây đạt 17,8 triệu tấn, tăng 183%. Sở dĩ năm 1999 có sự tăng vọt về diệntích là do đất hoang hóa ở vùng sâu, vùng xa đã được khai thác đưa vào trồngmía, đạt 30.000 ha. Qua những năm đầu mở rộng diện tích ồ ạt, các năm sau đãcó sự điều chỉnh, cân đối lại vùng nguyên liệu nhằm khai thác hiệu quả hơn. Vụsản xuất 2002-2003, diện tích cả nước đã lên đến 315.000 ha, năng suất bìnhquân 49,8 tấn/ha và sản lượng cây mía đạt 15,7 triệu tấn.Đáng kể nhất là diện tích vùng nguyên liệu tập trung của các nhà máy đã đượccải thiện cả về mặt chất và mặt lượng. Niên vụ 1999-2000, kết thúc 5 thực hiệngiai đoạn một Chương trình mía đường, diện tích vùng nguyên liệu tập trung là202.000 ha, bằng 81% diện tích cần quy hoạch. Đến nay, diện tích đã lên tới258.750 ha. Năm 2001 và năm 2003, tuy diện tích vùng quy hoạch có giảm sútvề mặt lượng song nó lại thể hiện sự chuyển biến về mặt chất. Hiện nay năngsuất mía bình quân của các vùng nguyên liệu tập trung cao hơn mức bình quânchung từ 10-15%, đạt 54-55 tấn/ha, đặc biệt có những nơi năng suất đạt trên 100tấn/ha.Biểu đồ 2: Diện tích mía nguyên liệu tập trung 300 250 DiÖn tÝch (ngh×n ha) 200 150 100 50 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất mía đường - Bộ NN và PTNT 28
  • 29. Hạn chếQuy hoạch một số nhà máy và vùng nguyên liệu thiếu chuẩn xác. Quy hoạchvùng nguyên liệu cho các nhà máy không chặt chẽ dẫn đến phân tán, tranh chấp,một số nhà máy lại xây dựng quá gần nhau trong cùng một vùng hoặc đầu tưcông suất quá lớn so với khả năng phát triển vùng nguyên liệu. Hai ví dụ điểnhình của tình trạng này là việc chọn địa bàn xây dựng cho 2 nhà máy Linh Cảmvà Thừa Thiên Huế không đúng nên đã phải di chuyển.Các nhà máy thường đầu tư ở những vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có nhiềukhó khăn nên chi phí hoạt động cao. Hầu hết kết cấu hạ tầng vùng mía (đườnggiao thông, cầu cống, thuỷ lợi) còn yếu kém, chưa được đầu tư thoả đáng.Công tác nghiên cứu và chuyển giao khoa học kỹ thuật về trồng mía chưangang tầm với yêu cầu đặt ra. Việc phổ biến giống mới và kỹ thuật canh tác tiếnbộ cho nông dân còn chậm. Các giống mía rải vụ còn đang trong giai đoạnnghiên cứu thí điểm. Việc bón phân không hợp lý, thường là quá nhiều so vớimức cần thiết đã làm giảm chất lượng mía, đồng thời tiêu tốn nhiều chi phí.Năng suất, chất lượng mía còn thấp. Năng suất bình quân cả nước niên vụ 2002-2003 mới đạt 50 tấn/ha, trong khi đó, năng suất tiềm năng có thể đạt trên 70tấn/ha nếu được tưới nước, bón phân hợp lý. Chất lượng mía cũng còn ở dướimức tiềm năng. Mía có chất lượng tốt là mía chứa hàm lượng đường cao. Songchỉ tiêu chữ lượng đường trung bình của cả nước là 9,9 CCS ( 100 tấn mía thuđược 9,9 tấn đường) đã không tăng trong 3 năm qua trong khi mức tiềm năng là11 CCS. Hàm lượng 9,9 CCS cũng thấp hơn khá nhiều so với chỉ tiêu trungbình của thế giới: 12-13 CCS.Thêm vào đó, chi phí sản xuất nông nghiệp của ngành mía đường khá cao. Vớinăng suất mía 50 tấn/ha, chi phí trồng mía sẽ vào khoảng 200.000 VND/tấn.Tính thêm cả chi phí vận chuyển trung bình 40.000VND/tấn và trừ đi khoản thuhồi từ bã bùn, bã mía thì giá mua nguyên liệu của các nhà máy đã chiếm 55-60%giá thành. Chi phí nguyên liệu quá lớn khiến giá bán đường tăng cao, làm giảmnăng lực cạnh tranh của ngành mía đường Việt Nam. 29
  • 30. Như vậy, đáng lẽ nguồn nguyên liệu phải là một lợi thế của ngành mía đường,nhưng hiện nay, nó đang là một yếu tố làm giảm sức cạnh tranh của ngành. Điềuquan trọng là Việt Nam cần thực hiện cho được công tác cơ giới hóa vùngnguyên liệu, nhanh chóng chuyển đổi từ quảng canh sang thâm canh để giảmthiểu chi phí cho việc trồng mía và tăng năng suất cũng như hiệu quả của câymía.1.1.2. Công nghệ, kỹ thuậtCông nghệ có vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết định năng lực sảnxuất và hiệu quả của toàn ngành mía đường. Công nghệ ở đây bao trùm tất cảcác khâu từ trồng mía nguyên liệu đến chế biến công nghiệp.Công nghệ giống và kỹ thuật canh tác míaTrong xây dựng và phát triển vùng nguyên liệu, giống có vai trò then chốt, quyếtđịnh năng suất và chất lượng cây mía. Với năng suất mía trung bình cả nước là50 tấn/ha, một số vùng đã đạt năng suất trên 100 tấn/ha khi áp dụng thành côngnhững giống mía tốt. Diện tích trồng bằng giống mới trong cả nước là 114.000ha, chiếm 62% tổng diện tích vùng nguyện liệu tập trung. Phần lớn giống míađược nhập khẩu và biến đổi cho thích nghi với điều kiện sản xuất nước ta đemlại các đặc tính tốt: cây chín sớm, thích ứng rộng, chịu hạn tốt, hàm lượng đườngcao…Ngoài ra, các kỹ thuật canh tác tiên tiến đã được áp dụng như bón phân cân đối,sử dụng phân hữu cơ vi sinh... Việc cơ giới hoá khâu canh tác và phòng trừ sâubệnh được triển khai rộng rãi đem lại kết quả tích cực.Tuy vậy vẫn còn những tồn tại trong khâu cung cấp giống. Trước hết, tính hệthống, liên hoàn giữa nghiên cứu và nhân giống mía chưa chặt chẽ, cũng chưacó kế hoạch hợp lý giữa sản xuất và cung ứng giống mía. Khả năng tự cung cấp,phát triển giống mía của Việt Nam còn thấp. Hiện nay diện tích mía trồng mới 30
  • 31. mỗi năm từ 100.000 đến 110.000 ha, do vậy sẽ cần khoảng 0.8-1 triệu tấn giốngnhưng nguồn cung cấp trong nước mỗi năm chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu.Bên cạnh giống mía, kỹ thuật trồng trọt cũng ảnh hưởng lớn tới số lượng vàchất lượng mía cung cấp cho các nhà máy, đặc biệt là vấn đề tưới nước cho câymía chưa được giải quyết triệt để. Trên thế giới diện tích được tưới chiếm tỷ lệcao: 88% ở Ấn Độ, 80% ở Nam Phi, 80% ở Úc. Việc diện tích mía được tưới ởViệt Nam mới chiếm 10% làm cho năng suất còn bị hạn chế, phần nào làm giảmchất lượng cây mía.Công nghệ, kỹ thuật chế biến đườngCông nghệ chế biến đường quyết định chất lượng của sản phẩm đầu ra. Trongthời gian qua, nhiều sáng kiến trong sản xuất, chế biến đường đã giúp nâng caohiệu quả sản xuất. Các cơ sở nghiên cứu khoa học ra đời cùng với đội ngũ cánbộ kỹ thuật ngày càng lớn mạnh đang hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động sản xuấtcủa các nhà máy.Bảng 1: Một số công nghệ mới mang lại hiệu quả trong chế biến đườngCÔNG NGHỆ TÁC DỤNG Hạn chế tối đa sự chuyển hoá và phân huỷSunfit hoá trung tính đường trong sản xuấtLắng nổi Hiệu suất làm sạch và tẩy màu caoThiết bị khuyếch tán Tăng hiệu suất khuyếch tán nước míaMáy xé tơi và máy đập Tăng độ xé tới mía lên 80% Tăng công suất ép lên 30-80%, rút ngắnTrục nạp liệu cưỡng bức dàn ép, giảm vốn đầu tưThiết bị gia nhiệt và bốc Tăng hệ số truyền nhiệt, lắp đặt thay thếhơi kiểu tấm thông rửa dễ dàng, chiếm diện tích nhỏNguồn: Cục chế biến nông lâm sản và nghề muối, Bộ NN và PTNT.Gần 80% các nhà máy mới được xây ở những vùng nguyên liệu mía tập trungquy mô lớn và được trang bị công nghệ thiết bị hiện đại, 20% còn lại là thiết bị 31
  • 32. loại trung bình của thế giới và phù hợp với các vùng nguyên liệu mía quy môvừa và nhỏ, vùng sâu, vùng xa. Phần lớn thiết bị của ngành nhập khẩu từ TrungQuốc, phần còn lại từ các nước như Nhật, Pháp.Một số cơ sở vật chất nghiên cứu khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực mía đường đãđược xây dựng như viện nghiên cứu mía đường Bến Cát, phòng nghiên cứu míađường ở viện nghiên cứu thực phẩm... Các cơ sở này giúp các nhà máy trungương nâng cao năng lực quản lý, cải tiến thiết bị, chế tạo một số phụ tùng thaythế, tạo điều kiện nâng cao công suất ép, hiệu suất thu hồi và chất lượng sảnphẩm.Song vẫn còn hai hạn chế lớn về công nghệ của ngành chế biến đường là sự tồntại của nhiều lò đường thủ công và sự hạn chế về máy móc trong các nhà máyđường hiện nay so với các nước khác trên thế giới. Công nghệ các nhà máyđường thủ công còn rất thô sơ, như việc ép mía được thực hiện bằng sức ngườihay trâu bò, việc đun nước mía và kết tinh đường cũng thực hiện rất thủ công.Chất lượng của các sản phẩm sản xuất ra như đường vàng, đường phèn, đườngphổi, là không cao.Công nghệ chế biến ở các nhà máy hiện đại hơn so với các lò đường thủ công,nhưng còn kém nhiều so với các nhà máy trên thế giới. Ngoài một số ít nhà máycó vốn đầu tư và công nghệ của các nước lớn như Úc, Nhật, Pháp, hầu hết đềusử dụng thiết bị của Trung Quốc hoặc thiết bị nhập đã lâu năm. Khả năng tàichính hạn hẹp buộc các nhà máy phải sử dụng các dây chuyền sản xuất lạc hậu.Tóm lại, công nghệ đã và đang trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp và làlợi thế cạnh tranh của các nhà sản xuất đường thế giới. Nhưng mía đường ViệtNam chưa tạo dựng được những lợi thế này. Vì vậy, khai thác triệt để hiệu suấtcủa những công nghệ hiện có và tạo dựng được những bí quyết công nghệ riênglà lối ra và là yêu cầu cấp thiết để ngành mía đường Việt Nam có thể thắng lợitrong cạnh tranh quốc tế. 32
  • 33. Edited by Foxit Reader Copyright(C) by Foxit Software Company,2005-2007 For Evaluation Only.1.1.3. Nhân lựcNguồn lao động là một lợi thế tương đối của ngành mía đường Việt Nam.Lợi thếViệt Nam có nguồn lao động dồi dào, lại thuộc loại trẻ, có trình độ giáo dục phổthông tương đối cao. Người lao động Việt Nam được đánh giá là thông minh,khéo tay, cần cù, chịu khó và chi phí lao động rẻ. Rõ ràng lực lượng lao động làmột lợi thế cạnh tranh cho ngành mía đường Việt Nam.Hơn thế, truyền thống nông nghiệp đã ăn sâu, bắt rễ vào mỗi người dân Việt.Cây mía đã được trồng ở Việt Nam từ rất lâu đời. Người Việt Nam cũng biết épmía chế biến mật từ hàng ngàn năm nay. Bởi vậy, kinh nghiệm lâu năm củangười nông dân trồng mía và sản xuất đường thủ công cũng là một nên tảngvững chắc cho một nền công nghiệp mía đường phát triển.Chương trình mía đường, dưới sự hướng dẫn của Bộ nông nghiệp và phát triểnnông thôn kết hợp với Cục Nông nghiệp, đã xây dựng được một nguồn nhânlực đã qua đào tạo với số lượng lớn. Mô hình đào tạo theo nhu cầu và địa chỉ cụthể của Chương trình mía đường là thực sự phù hợp và có hiệu quả. Cho đến nayngành mía đường có 15.000 người đã qua đào tạo bao gồm giám đốc, trưởngphó phòng, cán bộ kỹ sư nông nghiệp, công nghiệp và công nhân. Trong đó, cánbộ quản lý, kỹ sư trung cấp có 2.000 người; nhân viên nông vụ, công nhân côngnghệ đường và sau đường, công nhân cơ điện là 13.000 người. Ngoài ra, 400 cánbộ quản lý, kỹ thuật và công nhân được đào tạo ngắn hạn ở nước ngoài, tổ chứctập huấn hơn 56.000 lượt người cho nông dân, công nhân nông nghiệp về kỹthuật canh tác mía và sử dụng máy nông nghiệp. Tổng kinh phí dành cho côngtác đào tạo tính riêng đến năm 2000 là 50 tỷ đồng.Hạn chếChính vì xuất phát điểm Việt Nam là một nước nông nghiệp nên nếp làm ăn thủcông và tư duy nông nghiệp cũng ăn sâu vào con người, dẫn đến chậm thay đổi 33
  • 34. và khó thay đổi tư duy, tác phong làm việc theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa, nhất là ở tầng lớp nông dân.Đại bộ phận nông dân trồng mía còn nghèo, trình độ học vấn thấp, việc áp dụngnhững tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trồng mía gặp nhiều khó khăn. Quá trìnhtrồng mía do vậy gặp nhiều trở ngại trong việc chuyển hướng từ quảng canh câymía sang hướng thâm canh, rải vụ.Mặc dù đã thực hiện công tác đào tạo tương đối tốt, song hiện nay cán bộ quảnlý, cán bộ nông vụ của nhiều nhà máy còn thiếu và chưa đáp ứng được yêu cầunhiệm vụ. Hơn thế, các nhà máy đường trong thời gian qua được nhà nước hỗtrợ nhiều. Chính đặc thù này cũng khiến cho nhiều cán bộ, đặc biệt là cán bộquản lý còn mang tư tưởng ỷ lại, dựa dẫm, chưa thực sự năng động và sáng tạo,chưa chủ động để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, sản xuất chưa thực sựhướng đến thị trường mà mới chú trọng đến việc làm ra sản lượng đáp ứngChương trình mía đường.Chất lượng nhân lực phụ trách lĩnh vực thị trường còn yếu, chưa bắt kịp vớinhững diễn biến phức tạp của thị trường và tâm lý, thị hiếu ngày càng khắt khecủa người tiêu dùng. Đây là những bất lợi của ngành mía đường trong vấn đềnhân lực mà nếu không được bổ khuyết kịp thời sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranhcủa ngành trước quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.Tóm lại, nguồn nhân lực rẻ và dồi dào rõ ràng là một lợi thế cạnh tranh củangành mía đường. Song lợi thế này đang có xu hướng giảm xuống dưới tác độngcủa quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi vậy, việc xây dựng năng lực cạnhtranh của ngành phải đi theo hướng phát huy khả năng sáng tạo của một nguồnnhân lực có chất lượng cao.1.2. Kết quả năng lực sản xuất1.2.1. Quy mô ngành 34
  • 35. Quy mô các nhà máy chế biến thể hiện khả năng kinh tế theo quy mô của ngành.Hơn thế, khi quy mô của toàn ngành là lớn thì rào cản xâm nhập sẽ cao, sứcmạnh tổng hợp từ nội lực ngành trong hội nhập quốc tế sẽ lớn.Quy mô ngành mía đường Việt Nam tương đối lớn và đi vào chiều hướng ổnđịnh. Năm 1994, cả nước chỉ có 12 nhà máy đường hoạt động, tổng công suất10.300 tấn mía ngày (TMN), sản xuất gần 100.000 tấn đường/năm và phải nhậpkhẩu để đáp ứng mức tiêu thụ bình quân đầu người là 6,7 kg (mức tiêu thụ bìnhquân của thế giới lúc đó là 21 kg/người). Chương trình mía đường đã huy độngđược lượng vốn lớn trong và ngoài nước lên tới 10.050 tỉ VND đầu tư cho phầnmở rộng và xây mới các nhà máy. Đến năm 2002, cả nước đã xây dựng 44 nhàmáy với tổng công suất thiết kế là 82.950 TMN, tăng hơn 8 lần so với năm1994. Các nhà máy phân bố tương đối đều ở ba miền: miền Bắc 13 nhà máy,miền Trung và Tây Nguyên 16 nhà máy, miền Nam 15 nhà máy. Trong đó, miềnNam đạt tổng công suất lớn nhất là 31.150 TMN, miền Trung có số lượng nhàmáy nhiều nhất song tổng công suất lại thấp nhất, đạt 24.450 TMN.Về khai thác công suất thiết kế, hàng năm, công suất sử dụng thực tế của cácnhà máy liên tục tăng. Niên vụ 2002-2003 có 28/44 nhà máy hoạt động đạt trên80% công suất thiết kế, có 11/44 nhà máy đạt công suất từ 50-80% và 5/44 nhàmáy hoạt động dưới 50% công suất. Nếu so với công suất trung bình của thếgiới (khoảng 85%) thì ngành mía đường Việt Nam vẫn còn gần một nửa sốlượng các nhà máy có công suất chưa đạt yêu cầu. Tuy nhiên, với những khókhăn do nguồn nguyên liệu còn thiếu, không ổn định và quá trình hình thành nontrẻ của ngành thì kết quả này là dễ hiểu. Nó cho thấy tiềm năng mở rộng côngsuất cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh dần được cải thiện của các nhà máychế biến đường Việt Nam.Như vậy, cho đến nay, ngành mía đường Việt Nam đã xây dựng được một hệthống các nhà máy đáp ứng đủ cho yêu cầu sản xuất trong nước. Tuy nhiên, các 35
  • 36. nhà máy đều còn non trẻ với công suất hoạt động chưa cao. Từ nay cho đến năm2006 là một khoảng thời gian không dài để các nhà máy nhanh chóng cải thiệncông suất chế biến, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Đồng thời ngànhmía đường Việt Nam cũng phải tiến hành đổi mới, sắp xếp lại các nhà máy theohướng xây dựng những nhà máy có quy mô lớn để tận dụng lợi thế về tính kinhtế theo quy mô như kinh nghiệm của các nước trên thế giới.Bảng 2: Công suất thực tế so với công suất thiết kế của 44 nhà máyNHÀ MÁY CSTT/CSTK (%) NHÀ MÁY CSTT/CSTK (%)Đồng Xuân 200% Tuy Hoà 89%Phan Rang 175% Sông Lam 89%Nagarjuna 146% Kon Tum 89%Nghệ An T&L 141% 333 Đắc Lắk 87%Phụng Hiệp 138% Bình Dương 85%Bourbon Gia Lai 133% Trị An 81%Nước Trong 128% Sơn La 79%Vị Thanh 128% Bourbon TN 77%Hiệp Hoà 124% An Khê 73%Sóc Trăng 122% Cao Bằng 73%Trà Vinh 115% Tuyên Quang 73%Bến Tre 115% Quảng Ngãi 69%Bình Định 114% Nam Quảng Ngãi 69%Thô Tây Ninh 114% Thới Bình 68%Sông Con 114% Sơn Dương 65%KCP Phú Yên 106% Ninh Hòa 64%Đắc Lắk 106% Việt Đài 60%Lam Sơn 104% Việt Trì 49%Nông Cống 103% Bình Thuận 49%Kiên Giang 100% Quảng Bình 37%Hoà Bình 100% Quảng Nam 34% 36
  • 37. La Ngà 98% Cam Ranh 32%Nguồn: Báo cáo tình hình sản xuất mía đường vụ 2002-2003, Bộ NN và PTNTChú thích:- CSTT: Công suất thực tế- CSTK: Công suất thiết kế1.2.2. Sản lượngSản lượng đường của ngành đã liên tục tăng từ năm 1995 đến nay. Nếu nhưtrước năm 1995, Việt Nam còn phụ thuộc chủ yếu vào đường nhập khẩu, thì đếnnay chúng ta không những đáp ứng đủ nhu cầu đường cho tiêu dùng và chế biếncông nghiệp mà còn tiến tới xuất khẩu đường.Bảng 3: Sản lượng đường của Việt Nam từ 1995-2003 Đơn vị: Tấn NIÊN VỤ CÔNG NGHIỆP THỦ CÔNG TỔNG SẢN LƯỢNG 1994-1995 110.117 210.000 320.117 1995-1996 182.100 200.000 382.100 1996-1997 213.400 260.000 473.400 1997-1998 322000 230.000 552.000 1998-1999 556.700 200.000 756.700 1999-2000 764.000 250.000 1.014.000 2000-2001 650.000 300.000 950.000 2001-2002 772.650 300.000 1.072.650 2002-2003 1.056.000 150.000 1.206.000Nguồn: Cục chế biến nông lâm sản và nghề muối, Bộ NN và PTNTĐến năm 2000, lần đầu tiên sản lượng đường đã vượt mức 1 triệu tấn, hoànthành mục tiêu của Chương trình mía đường sản xuất 1 triệu tấn đường vào năm2000. Niên vụ 2003, sản lượng đạt mức cao nhất từ trước tới nay là 1,2 triệu tấn,tăng 277% so với năm 1995. Riêng năm 2001, sản lượng có sụt giảm so với năm 37
  • 38. 2000, với mức sản xuất công nghiệp giảm 15%. Lý do là vụ sản xuất 2001 diễnra trong hoàn cảnh có nhiều khó khăn. Giá mía và giá đường từ vụ 1999-2000xuống quá thấp khiến nhà máy đường và nông dân trồng mía một số nơi bị thualỗ, nông dân đã giảm bớt diện tích trồng mía để chuyển sang trồng các cây khác.Bên cạnh đó do ảnh hưởng của thiên tai nên năng suất, sản lượng mía giảm,nhiều nhà máy thiếu nguyên liệu đã không đảm bảo được kế hoạch sản xuất.Sản xuất đường công nghiệpĐường chế biến công nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng cao hơn hẳn so vớiđường sản xuất thủ công. Sản lượng tăng đều với tốc độ tăng tương đối cao sovới năm 1995. Năm 1995, sản lượng sản xuất công nghiệp mới đạt 182.100 tấnthì năm 2003, con số này đã tăng lên 1.056.188 tấn, gấp gần 6 lần. Đây là mộtnỗ lực to lớn của toàn ngành cho thấy năng lực sản xuất, chế biến của khu vựcnày đã được cải thiện rõ rệt.Sản xuất đường thủ côngTrước năm 1995, đường thủ công chiếm một tỷ trọng lớn trong sản xuất đườngcủa toàn ngành. Tuy nhiên, tỷ lệ này ngày càng giảm xuống cùng với sự đi lêncủa sản xuất công nghiệp. Tỷ trọng đường thủ công trong tổng sản lượng đườngliên tục giảm từ mức 65,6% năm 1995 xuống còn 12, 4% năm 2003. Năm 2001,tỷ trọng này có tăng lên song không phải vì quy mô khu vực này có sự mở rộngmạnh mẽ mà chủ yếu là do sản xuất đường công nghiệp bị sụt giảm (như nguyênnhân đã nêu ở phần trên).Sự tồn tại của khu vực sản xuất thủ công là một đặc điểm quan trọng của ngànhmía đường Việt Nam. Đây cũng là một tất yếu đối với hầu hết các quốc gia đangphát triển, bởi bộ phận dân cư có thu nhập thấp sẽ thu hút lượng mía dư thừa vàocác lò thủ công để chế biến ra đường có chất lượng không cao song vẫn có nhucầu tiêu dùng lớn. Vấn đề hàng đầu đối với khu vực này là năng suất ép quáthấp, khoảng 18-20 tấn mía mới được 1 tấn đường trong khi khu vực sản xuấtcông nghiệp tuy chưa phải ở mức hiện đại so với thế giới song đã đạt 10-12 tấnmía/1 tấn đường. Vậy kết luận đưa ra là nhất thiết phải điều chỉnh hoạt động của 38
  • 39. khu vực sản xuất thủ công, tiến tới giảm dần sản lượng đường thủ công để pháthuy hiệu quả sản xuất đường công nghiệp.Ngoài lượng đường cung cấp từ chế biến công nghiệp và sản xuất thủ công thìtrong những năm gần đây, ngành đường cũng đã tiến hành nhập khẩu đườngthô để chế biến thành đường trắng nhằm đa dạng hóa đầu vào cho công nghiệpchế biến đường. Nguồn nhập khẩu chủ yếu của chúng ta là Cuba, Úc, HồngKông. Đường nhập khẩu có nhiều chủng loại như đường trắng, đường đỏ, đườngvàng song chỉ có hai loại sau được tinh luyện đường trắng.Tóm lại, với năng lực sản xuất như hiện nay thì ngành mía đường Việt Namhoàn toàn có thể đảm bảo mức cung cấp ổn định và lâu dài khoảng 1 triệu tấnđường/năm. Đây cũng chính là mức cung đủ đáp ứng cầu mà Đảng và Nhà nướcta đã đề ra. Vấn đề còn lại là làm sao chất lượng và giá cả của các sản phẩmđường đủ sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.1.2.3. Chất lượng và giá cảChất lượng và giá cả là hai nhân tố quyết định trực tiếp đến khả năng cạnh tranh.1.2.3.1. Chất lượngSản phẩm đường Việt Nam có chất lượng ngày càng được nâng cao và có khảnăng tham gia vào thị trường đường thế giới. Chất lượng đường đã đạt tiêuchuẩn Việt Nam và quốc tế. Nếu như trước năm 1999 toàn ngành mía đườngmới có 2 công ty đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9002 là công ty đườngLam Sơn và Liên doanh đường Việt-Đài, thì tới nay ngành đã có thêm nhiềucông ty được công nhận đạt chuẩn ISO như công ty đường Biên Hòa, Hiệp Hòa,Sóc Trăng, Vị Thanh, Phụng Hiệp, Tale & Lyle… Các công ty khác cũng đangtiếp tục phấn đấu để đạt tiêu chuẩn trên trong thời gian tới. Sản phẩm đườngViệt Nam cũng đã bắt đầu tham gia xuất khẩu với dấu mốc đầu tiên là 80.000tấn vào niên vụ 1999-2000, niên vụ 2000-2001 tiếp tục xuất khẩu 60.000 tấn và 39
  • 40. niên vụ 2002-2003 là 50.600 tấn. Như vậy, có thể khẳng định rằng sản phẩmđường Việt Nam có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm trong khu vực vàquốc tế.Chủng loại đườngNgành mía đường cung cấp các loại chính là đường kính và đường viên, trongđó đường kính gồm ba phẩm cấp là đường tinh luyện (RE-Refined sugar),đường trắng (WS-White Sugar), đường thô (RS). Đường kính có thể dễ dàngđược sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau: đường tinh luyện làm nguyênliệu đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm sau đường nhưsữa, nước ngọt, bánh kẹo, rượu, cồn; đường trắng được sử dụng trực tiếp chonhu cầu giải khát, chế biến của người tiêu dùng; đường thô được dùng để làmcác đặc sản truyền thống như chè lam, kẹo lạc, bánh trôi, ô mai… Gần đây, sảnphẩm đường viên được nhiều nhà máy như Khánh Hội, Biên Hòa đưa vào sảnxuất nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cao cấp. Ngoài ra, nhà máy đường BiênHòa mới đưa vào thị trường một loại sản phẩm đường luyện có chứa hàm lượngVitamin A cao rất thích hợp cho việc chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và trẻ em.Đây là những nỗ lực của ngành đường nhằm đa dạng hóa các chủng loại sảnphẩm. Tuy nhiên, rõ ràng là để nâng cao khả năng canh tranh thì ngành đườngcần tiếp tục đầu tư, nghiên cứu để có thể đa dạng hóa chủng loại sản phẩmđường hơn nữa, đặc biệt là trước yêu cầu ngày càng cao và những sự thay đổitrong tâm lý tiêu dùng đường hiện nay.Mẫu mã, bao bì và thương hiệu sản phẩmSản phẩm đường Việt Nam còn yếu về mẫu mã, bao bì. Các chất liệu bao bìđược sử dụng chủ yếu là hộp cát-tông và túi ni-lông, mẫu mã, hình thức lại chưaphong phú và hấp dẫn. Vấn đề thương hiệu cũng chưa được chú ý, đầu tư nêngần như chưa có một nhãn hiệu đường nào được người tiêu dùng quan tâm, ưachuộng. Có hai nguyên nhân lý giải cho thực trạng này: thứ nhất là ngành míađường còn ở trong giai đoạn đầu phát triển sản phẩm, mới chú trọng đến chất 40

Related Documents